Đổi mới công tác dân tộc và tôn giáo ở địa bàn chiến lược Tây Nguyên - Báo Nhân Dân

Với 45 dân tộc anh em cùng sinh sống, địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi rộng lớn, điều kiện phát triển không đồng đều, đòi hỏi tỉnh Đắk Lắk phải đổi mới mạnh mẽ tư duy và phương thức thực hiện công tác dân tộc, tôn giáo trong tình hình mới.

Đổi mới công tác dân tộc và tôn giáo ở địa bàn chiến lược Tây Nguyên - Báo Nhân Dân
Đồng chí Lương Nguyễn Minh Triết, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đắk Lắk (người đứng thứ 4 từ trái sang) thăm, động viên đồng bào dân tộc thiểu số xã Cư Pui. (Ảnh: Nguyễn Công Lý)

Để đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk đã ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 15/5/2026 về công tác dân tộc và tôn giáo giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045; Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định số 2648/QĐ-UBND ngày 21/8/2026 phê duyệt Đề án xây dựng và phát triển toàn diện 20 xã điểm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030. Đây vừa là định hướng chiến lược, vừa quyết tâm đổi mới mạnh mẽ công tác dân tộc và tôn giáo ở địa bàn chiến lược Tây Nguyên.

Bài 1: Từ chủ trương đúng đến hành động quyết liệt

Hiện nay, các ngành chức năng của tỉnh tiếp tục tham mưu Tỉnh ủy ban hành Đề án hỗ trợ các xã, thôn, buôn đặc biệt khó khăn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn… Qua đó, Đắk Lắk đang từng bước định hình một phương thức phát triển mới: Có chiến lược, có mô hình, có mục tiêu cụ thể và hướng đến tạo chuyển biến thực chất trong đời sống nhân dân.

Tầm nhìn mới từ một nghị quyết chuyên đề

Đắk Lắk là địa phương có không gian văn hóa đa dạng, có 45 dân tộc anh em cùng sinh sống, tạo nên những giá trị đặc sắc về văn hóa, phong tục, tập quán và đời sống cộng đồng. Đây vừa là nguồn lực quý giá, vừa đặt ra những yêu cầu rất riêng trong quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc.

Đồng chí Lương Nguyễn Minh Triết, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đắk Lắk dự và phát biểu tại Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc xã Cư Pui năm 2025. (Ảnh: CTV)

Theo kết quả phân định giai đoạn 2026-2030, toàn tỉnh có 81 xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó 16 xã khu vực I, 14 xã khu vực II và 51 xã khu vực III; có 449 thôn, buôn đặc biệt khó khăn. Quy mô địa bàn rộng, điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội giữa các vùng còn có sự khác biệt, trong khi nhu cầu đầu tư về hạ tầng, sinh kế, giảm nghèo, giáo dục, y tế, văn hóa và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực vẫn rất lớn.

Trong bối cảnh đó, việc Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 15/5/2026 về công tác dân tộc và tôn giáo giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045 mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Đây không chỉ là một văn bản xác định nhiệm vụ cho một giai đoạn, mà quan trọng hơn là Đắk Lắk đã tiên phong ban hành một nghị quyết chuyên đề của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về công tác dân tộc và tôn giáo, qua đó thể hiện sự chủ động trong nhận diện những vấn đề đặt ra từ thực tiễn và quyết tâm đưa công tác dân tộc, tôn giáo lên một tầm nhìn mới.

Đoàn công tác của Tỉnh ủy Đắk Lắk thăm, tặng quà các Giáo xứ trên địa bàn tỉnh trong dịp Noel năm 2025. (Ảnh: CTV)

Theo đó, Nghị quyết 07-NQ/TU đã đặt công tác dân tộc và tôn giáo trong tổng thể chiến lược phát triển của tỉnh, gắn với phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, xây dựng hệ thống chính trị, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tầm nhìn đến năm 2045 cũng cho thấy, Đắk Lắk không tiếp cận công tác dân tộc theo tư duy nhiệm kỳ hay chỉ tập trung giải quyết những khó khăn trước mắt, mà hướng tới một chiến lược phát triển dài hạn.

Nếu trước đây trọng tâm của chính sách dân tộc là hỗ trợ để đồng bào vượt qua khó khăn, thì tư duy mới đặt ra yêu cầu cao hơn: tạo điều kiện để đồng bào tự mình vươn lên và trở thành chủ thể của quá trình phát triển. Đây chính là điểm chuyển quan trọng từ tư duy “hỗ trợ” sang “kiến tạo phát triển”.

Nhà nước không làm thay, mà tạo cơ chế, chính sách, huy động và phân bổ nguồn lực, hỗ trợ khoa học-công nghệ, đào tạo nhân lực, kết nối thị trường và tạo môi trường thuận lợi để người dân, cộng đồng, hợp tác xã, doanh nghiệp cùng tham gia. Một hộ nghèo không chỉ cần được hỗ trợ để thoát nghèo, mà phải có sinh kế đủ bền vững để không tái nghèo. Một sản phẩm nông nghiệp không chỉ dừng ở sản xuất, mà phải hướng tới chế biến, xây dựng thương hiệu và tham gia thị trường. Một giá trị văn hóa không chỉ được bảo tồn, mà cần được phát huy để trở thành nguồn lực cho phát triển.

Với Nghị quyết 07-NQ/TU, một cách tiếp cận mới đang từng bước được hình thành: Lấy người dân làm trung tâm, lấy cộng đồng làm chủ thể, lấy phát triển kinh tế làm nền tảng, lấy văn hóa làm nguồn lực, lấy môi trường và chất lượng sống người dân làm thước đo, lấy quốc phòng, an ninh làm điều kiện bảo đảm và lấy hiệu quả thực tế làm tiêu chí đánh giá chính sách.

Đề án 20 xã điểm - biến chủ trương thành mô hình thực tiễn

Nếu Nghị quyết 07-NQ/TU tạo ra nền tảng chính trị và định hướng chiến lược, thì Quyết định số 2648/QĐ-UBND ngày 21/8/2026 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk phê duyệt Đề án “Xây dựng và phát triển toàn diện 20 xã điểm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2026-2030” là bước chuyển quan trọng từ chủ trương sang hành động.

Điểm đáng chú ý của Đề án không chỉ nằm ở con số 20 xã, mà nằm ở cách Đắk Lắk lựa chọn phương thức tổ chức thực hiện.

Các đồng chí Thường trực Tỉnh ủy Đắk Lắk trao tặng nhà Đại đoàn kết cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo xã Cư Pui tại Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc xã Cư Pui năm 2025. (Ảnh: CTV)

Trong điều kiện nhu cầu đầu tư tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi rất lớn, trong khi nguồn lực có giới hạn, việc lựa chọn một số địa bàn có tính đại diện để tập trung nguồn lực, triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, theo dõi, đánh giá, tổng kết và nhân rộng là một cách tiếp cận có tính đổi mới.

20 xã điểm không đơn thuần là 20 xã được ưu tiên đầu tư, mà đó là 20 địa bàn để thử nghiệm, kiểm chứng và hoàn thiện một phương thức phát triển mới.

Tại những địa bàn này, các chủ trương của Nghị quyết 07-NQ/TU được cụ thể hóa thành những mô hình phát triển cụ thể; những cách làm mới được triển khai trong thực tiễn; hiệu quả được đo bằng sự thay đổi của đời sống người dân. Những mô hình phù hợp sẽ được tổng kết, hoàn thiện và nhân rộng.

Nói cách khác, nếu Nghị quyết 07 là “tầm nhìn”, thì Đề án 20 xã điểm là “phép thử” của tầm nhìn đó trong thực tiễn.

Đây cũng là điểm tạo nên dấu ấn riêng của Đắk Lắk. Thay vì chỉ đặt mục tiêu hoàn thành một danh mục công trình hoặc giải ngân một nguồn vốn, Đề án hướng tới hình thành những địa bàn phát triển toàn diện, có mô hình cụ thể, có khả năng đo lường và có sức lan tỏa mạnh mẽ.

Đầu tư có trọng tâm, trọng điểm

Một trong những yêu cầu quan trọng của Đề án là phải sử dụng nguồn lực có trọng tâm, trọng điểm, tránh trùng lặp, tránh dàn trải và tập trung vào những nội dung thực sự tạo ra động lực phát triển.

Bởi thực tế cho thấy, các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của Đắk Lắk có điều kiện rất khác nhau. Có địa phương có thế mạnh về nông nghiệp hàng hóa; có nơi có lợi thế về lâm nghiệp, dược liệu; có nơi có tiềm năng du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng; có nơi nổi bật về nghề truyền thống, sản phẩm OCOP hoặc những giá trị văn hóa đặc sắc. Vì vậy, không thể có một công thức phát triển chung áp dụng cho tất cả các xã.

Đại diện "Quỹ Vì người nghèo" tỉnh Đắk Lắk trao tặng nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo phường Ea Kao. (Ảnh: CTV)

Tuy nhiên, mục tiêu chung cho tất cả các xã là nâng cao đời sống nhân dân, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, giữ gìn văn hóa và củng cố hệ thống chính trị. Nhưng cách làm phải xuất phát từ lợi thế, điều kiện và nhu cầu thực tế của từng địa phương.

Một con đường được đầu tư không chỉ để tạo nên một tuyến giao thông mới, mà phải mở ra cơ hội tiếp cận thị trường và thúc đẩy sản xuất. Một công trình nước sạch không chỉ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, mà góp phần nâng cao sức khỏe và chất lượng sống. Một nhà sinh hoạt cộng đồng không chỉ phục vụ hội họp, mà có thể trở thành không gian văn hóa của buôn làng. Một nền tảng số không chỉ phục vụ quản lý nhà nước, mà còn giúp người dân tiếp cận thông tin, dịch vụ, thị trường và quảng bá sản phẩm.

Đó là sự chuyển đổi từ đầu tư cho công trình sang đầu tư cho năng lực phát triển; không phải đầu tư nhiều hơn, mà là đầu tư đúng hơn, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm.

(Còn nữa)

NGUYỄN CÔNG LÝ-BÁ THĂNG