Thu hẹp khoảng cách số cho đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên - Báo Nhân Dân

Chuyển đổi số đang mở ra những cơ hội chưa từng có để người dân vùng dân tộc thiểu số tiếp cận tri thức, dịch vụ công, thị trường và các phương thức sinh kế mới. Nhưng với Tây Nguyên, chuyển đổi số cũng đặt ra một nghịch lý: người dân có thể ngày càng dễ tiếp cận công nghệ, nhưng chưa chắc đã có khả năng làm chủ công nghệ.

Thu hẹp khoảng cách số cho đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên - Báo Nhân Dân
Tác giả bài viết - Tiến sĩ Rơ Đăm Thị Bích Ngọc (thứ 3 từ trái sang) cùng các bạn trẻ đồng bào dân tộc thiểu số trong chuyến đi thực địa ở Đắk Lắk. (Ảnh: Xuân Nga)

Đây chính là khoảng cách số cần được nhìn nhận không chỉ như vấn đề hạ tầng, mà còn là vấn đề năng lực, ngôn ngữ, văn hóa và cơ hội phát triển.

Không chỉ là câu chuyện có hay không có Internet

Tây Nguyên hiện nay gồm các tỉnh Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk và Lâm Đồng theo không gian hành chính mới. Đây là địa bàn có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống như Ê-đê, Gia Rai, Ba Na, Xơ Đăng, M’nông, Cơ-ho... với hệ thống văn hóa, ngôn ngữ và thiết chế cộng đồng vô cùng đặc sắc. Chính những đặc điểm này khiến quá trình chuyển đổi số ở Tây Nguyên có những yêu cầu khác biệt so với các vùng khác.

Đảng và Nhà nước ta đã xác định chuyển đổi số là một động lực quan trọng của phát triển. Quyết định số 749/QĐ-TTg về Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đặt mục tiêu phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số gắn với thu hẹp khoảng cách số giữa các vùng, miền. Quyết định số 1719/QĐ-TTg về Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2030 cũng đưa chuyển đổi số trở thành một thành tố ngày càng quan trọng trong phát triển vùng.

Tại Tây Nguyên, các địa phương đã triển khai nhiều giải pháp như thành lập Tổ công nghệ số cộng đồng, tập huấn sử dụng điện thoại thông minh, Internet, hỗ trợ đưa nông sản lên các sàn thương mại điện tử, số hóa giáo dục và thủ tục hành chính. Đó là những bước tiến đáng ghi nhận. Tuy nhiên hạ tầng số hiện vẫn chưa đồng đều. Tỷ lệ hộ dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên có điện thoại, máy tính, có kết nối internet đang nằm trong nhóm thấp so với các vùng kinh tế-xã hội khác. Điều này cho thấy một thực tế quan trọng: khoảng cách số không dừng ở việc người dân có một chiếc điện thoại hay một đường truyền Internet. Khoảng cách lớn hơn nằm ở khả năng sử dụng công nghệ để học tập, sản xuất, kinh doanh, tiếp cận dịch vụ công và tự bảo vệ mình trên môi trường mạng.

Từ sử dụng công nghệ đến làm chủ công nghệ

Một bộ phận người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số hiện đã quen với điện thoại thông minh, mạng xã hội, xem tin tức, tra cứu giá nông sản hay trao đổi thông tin. Công nghệ số cũng bắt đầu tạo ra những cơ hội mới trong sản xuất và tiêu thụ nông sản.Tại Lâm Đồng, hơn 1.000 hộ đã được hướng dẫn đưa 177 mã nông sản lên sàn thương mại điện tử. Đắk Lắk và Gia Lai cũng triển khai hỗ trợ các hộ sản xuất, chủ thể OCOP tiếp cận các nền tảng thương mại điện tử như PostMart và Voso.

Trong giáo dục, chuyển đổi số cũng đang tạo ra những điểm sáng. Gia Lai đã triển khai học bạ số tại 205 trường tiểu học trong năm học 2024-2025; Đắk Lắk đặt mục tiêu mở rộng học bạ điện tử, hệ thống quản trị trường học, thư viện điện tử và các nền tảng học tập trực tuyến tới toàn bộ cơ sở giáo dục. Nhưng từ những điểm sáng ấy đến một mặt bằng năng lực số phổ cập vẫn còn khoảng cách đáng kể.

Một nghiên cứu về năng lực số của thanh niên dân tộc thiểu số năm 2025 cho thấy năng lực số gắn chặt với cơ hội việc làm, phát triển bền vững và khả năng tham gia xã hội; trong đó điều kiện kinh tế-xã hội, động lực cá nhân và môi trường học tập là những yếu tố tác động trực tiếp. Điều đó đặc biệt có ý nghĩa đối với Tây Nguyên. Nếu chỉ đưa thiết bị và Internet đến với người dân mà không tạo ra môi trường sử dụng thường xuyên, công nghệ rất khó chuyển hóa thành năng lực phát triển. Bởi mục tiêu cuối cùng của chuyển đổi số không phải là người dân biết dùng điện thoại, mà là người dân biết dùng công nghệ để cải thiện cuộc sống của chính mình.

Ba rào cản đặc thù cần được tháo gỡ

Thứ nhất, rào cản ngôn ngữ. Đối với một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, tiếng mẹ đẻ vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống hằng ngày, trong khi các nền tảng dịch vụ công, ngân hàng số và thương mại điện tử chủ yếu sử dụng tiếng Việt với nhiều thuật ngữ hành chính và công nghệ. Vì vậy, khó khăn đôi khi không bắt đầu từ thao tác kỹ thuật mà bắt đầu ngay từ việc hiểu đúng thông tin trên màn hình.

Đây là vấn đề cần được nhìn nhận nghiêm túc. Nếu ngôn ngữ số không phù hợp với người sử dụng, việc “phổ cập” có nguy cơ chỉ đạt về số lượng mà không đạt về năng lực thực chất.

Thứ hai, khoảng cách giữa không gian số và không gian văn hóa cộng đồng. Văn hóa truyền thống của nhiều dân tộc Tây Nguyên đề cao tính cộng đồng. Tri thức, luật tục, kinh nghiệm sản xuất và các giá trị văn hóa được trao truyền thông qua tương tác trực tiếp trong buôn, làng, nhà dài, nhà rông. Trong khi đó, công nghệ số thường tạo ra sự tương tác cá thể giữa người sử dụng và màn hình. Do đó, nếu đưa công nghệ vào cộng đồng theo cách thuần túy cá nhân hóa, chúng ta có thể vô tình tạo thêm một khoảng cách văn hóa.

Thứ ba, rào cản về kinh tế. Đối với các hộ nghèo và cận nghèo ở vùng khó khăn, chi phí thiết bị, kết nối Internet và duy trì sử dụng công nghệ phải cạnh tranh với những nhu cầu thiết yếu như lương thực, phân bón, học phí và chăm sóc gia đình. Vì vậy, yêu cầu đặt ra không phải chỉ là “phổ cập Internet”, mà phải bảo đảm khả năng tiếp cận số có tính bền vững và có lợi ích kinh tế-xã hội cụ thể.

Không thể đào tạo kỹ năng số bằng cách “chạy chỉ tiêu”

Một hạn chế đáng chú ý hiện nay là phương thức tập huấn ở một số nơi vẫn thiên về số lượng, thời gian ngắn, tài liệu nhiều chữ và nặng thuật ngữ kỹ thuật. Cách tiếp cận này chưa thật sự phù hợp với đặc điểm tiếp nhận thông tin của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số.

Khi lớp tập huấn kết thúc nhưng người dân không có môi trường thực hành, kỹ năng rất dễ mai một. Đáng lo ngại hơn, khoảng cách giữa kỹ năng sử dụng và kỹ năng an toàn số đang có nguy cơ trở thành một “điểm mù”. Người dân có thể sử dụng mạng xã hội để xem thông tin, nhưng lại gặp khó khăn khi xác thực điện tử, bảo vệ tài khoản, nhận diện lừa đảo, thanh toán trực tuyến hay bảo vệ dữ liệu cá nhân. Nghiên cứu cũng ghi nhận tỷ lệ người dân vùng khó khăn tự thực hiện dịch vụ công trực tuyến toàn trình còn rất thấp. Điều này cho thấy phổ cập kỹ năng số phải đồng thời là phổ cập kỹ năng an toàn số.

Cần một cách tiếp cận khác: bản địa hóa, cộng đồng hóa và gắn với sinh kế

Muốn thu hẹp khoảng cách số ở Tây Nguyên, trước hết cần thay đổi tư duy: từ phổ cập công nghệ theo kiểu đại trà sang cá thể hóa, bản địa hóa và cộng đồng hóa.

Một là, cần biến các nhà văn hóa cộng đồng, nhà rông, nhà dài và những không gian sinh hoạt chung thành các điểm tiếp cận công nghệ. Thay vì yêu cầu mỗi hộ phải tự đầu tư đầy đủ thiết bị và đường truyền, có thể ưu tiên các điểm số cộng đồng với Internet ổn định và thiết bị dùng chung. Cách làm này vừa giảm chi phí, vừa phù hợp với đặc trưng văn hóa cộng đồng của Tây Nguyên.

Hai là, bản địa hóa học liệu số. Những hướng dẫn về dịch vụ công, thanh toán số, thương mại điện tử hay phòng tránh lừa đảo cần được chuyển từ những văn bản dài sang video ngắn, hình ảnh, infographic, có tiếng nói và phụ đề bằng các ngôn ngữ DTTS phù hợp. Về lâu dài, cần nghiên cứu các công cụ trợ lý số có khả năng hỗ trợ bằng tiếng mẹ đẻ, qua đó giảm rào cản ngôn ngữ.

Ba là, phát huy già làng, trưởng buôn và người có uy tín như những “hạt nhân số” của cộng đồng. Công nghệ sẽ dễ được tiếp nhận hơn nếu được truyền đạt bởi những người mà cộng đồng tin tưởng. Đồng thời, cần tổ chức mô hình thanh niên hỗ trợ người cao tuổi theo phương thức “cầm tay chỉ việc”, biến kỹ năng số thành một hoạt động thường xuyên thay vì một khóa học ngắn hạn.

Bốn là, gắn kỹ năng số trực tiếp với sinh kế. Đồng bào không cần học công nghệ một cách chung chung. Họ cần biết dùng công nghệ để bán cà phê, hồ tiêu, sầu riêng; theo dõi thời tiết và dịch bệnh cây trồng; thanh toán an toàn; quảng bá sản phẩm OCOP; đưa hàng hóa lên sàn thương mại điện tử; phát triển du lịch cộng đồng. Đây chính là hướng biến công nghệ từ một công cụ tiêu dùng thành một công cụ tạo thu nhập.

Những mô hình bước đầu cho thấy tiềm năng này. Chẳng hạn, việc livestream giới thiệu sản phẩm dệt thổ cẩm tại Buôn Tơng Ju, Đắk Lắk được chúng tôi ghi nhận giúp doanh thu tăng 40% so với phương thức bán hàng truyền thống.

Để không ai bị bỏ lại phía sau trong không gian số

Thu hẹp khoảng cách số ở Tây Nguyên không đơn thuần là nhiệm vụ của ngành thông tin và truyền thông. Đây là vấn đề liên quan trực tiếp đến giảm nghèo, giáo dục, việc làm, phát triển nông nghiệp, bảo tồn văn hóa và bảo đảm an sinh xã hội.

Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã đặt ra yêu cầu tạo động lực mới cho phát triển. Với vùng dân tộc thiểu số, tinh thần ấy cần được cụ thể hóa bằng những chính sách phù hợp với từng cộng đồng, từng địa bàn và từng nhóm đối tượng.

Điều quan trọng nhất là không nên nhìn đồng bào dân tộc thiểu số chỉ như đối tượng thụ hưởng của chuyển đổi số. Họ phải được nhìn nhận là chủ thể của chuyển đổi số.

Khi người dân có thể tự thực hiện một thủ tục hành chính trên điện thoại; khi một hộ nông dân biết kiểm tra giá nông sản trước khi bán; khi một phụ nữ có thể giới thiệu sản phẩm thổ cẩm ra thị trường rộng lớn; khi thanh niên dân tộc thiểu số có thể sử dụng công nghệ để học tập và tìm kiếm việc làm; khi người già có thể nhận diện một cuộc gọi lừa đảo; và khi tiếng nói, văn hóa của các dân tộc được hiện diện trên không gian số, lúc đó chuyển đổi số mới thực sự tạo ra giá trị.

Tây Nguyên không cần một mô hình chuyển đổi số áp đặt từ bên ngoài. Tây Nguyên cần một hệ sinh thái số phù hợp với văn hóa, ngôn ngữ và sinh kế của chính mình.

Đó cũng là con đường để công nghệ không làm phai nhạt bản sắc, mà ngược lại, trở thành phương tiện để đồng bào dân tộc thiểu số bảo tồn văn hóa, mở rộng sinh kế, nâng cao năng lực tự bảo vệ và tự tin bước vào tương lai số.

Thu hẹp khoảng cách số, vì thế, không chỉ là đưa Internet đến với buôn làng. Đó là đưa cơ hội phát triển đến gần hơn với mỗi người dân-để trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia, không một cộng đồng nào bị bỏ lại phía sau.

Tiến sĩ Rơ Đăm Thị Bích Ngọc, Viện xã hội học và Tâm lý học (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam)