Đắk Lắk đẩy nhanh tiến dự án điện mặt trời nổi Srêpốk 3 quy mô lớn - Tạp chí Petrotimes
Dự án Nhà máy điện mặt trời nổi KN Srêpốk 3 triển khai trên mặt hồ thủy điện Srêpốk 3 và một phần diện tích đất liền thuộc các xã Ea Nuôl, Ea Wer (tỉnh Đắk Lắk), với quy mô công suất 304 MW và tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 6.745 tỷ đồng. Điểm nhấn của dự án là việc tận dụng diện tích mặt nước lớn để phát triển điện mặt trời nổi, một hướng đi đang được thúc đẩy trong chiến lược chuyển dịch năng lượng.
Dự án đã được bổ sung vào điều chỉnh Quy hoạch điện VIII theo Quyết định số 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 của Thủ tướng Chính phủ. Đây là cơ sở quan trọng để địa phương và nhà đầu tư triển khai các bước tiếp theo, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển nguồn điện sạch, bền vững.

Trước đó, UBND tỉnh Đắk Lắk đã chấp thuận chủ trương đầu tư dự án tại Quyết định số 523/QĐ-UBND ngày 1/3/2022, đồng thời chấp nhận nhà đầu tư là Công ty Cổ phần Điện mặt trời Srepok 3. Đến ngày 26/3/2026, tỉnh tiếp tục ban hành Quyết định số 862/QĐ-UBND điều chỉnh chủ trương đầu tư, cập nhật các nội dung phù hợp với thực tế triển khai. Doanh nghiệp này có vốn điều lệ 1.150 tỷ đồng, do bà Lê Nữ Thùy Dương làm Tổng Giám đốc và đại diện pháp luật.
Theo đó, dự án có tổng diện tích sử dụng khoảng 361 ha, trong đó khoảng 354 ha là mặt nước hồ thủy điện Srêpốk 3 được sử dụng để lắp đặt hệ thống pin mặt trời nổi. Phần diện tích còn lại khoảng 6 ha được bố trí cho khu quản lý vận hành, trạm biến áp 500 kV và các hạng mục phụ trợ. Ngoài ra, một phần diện tích nhỏ được sử dụng cho móng trụ các tuyến đường dây truyền tải điện. Với quy mô này, dự án thuộc nhóm A theo quy định của pháp luật về đầu tư công.
Đồng thời, có tổng mức đầu tư hơn 6.744 tỷ đồng, với cơ cấu chi phí tập trung chủ yếu vào thiết bị - hạng mục chiếm tỷ trọng lớn nhất, hơn 4.421 tỷ đồng. Bên cạnh đó, chi phí xây dựng ước khoảng 1.169 tỷ đồng, trong khi chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư vào khoảng 200 tỷ đồng, phục vụ công tác giải phóng mặt bằng và bảo đảm quyền lợi cho người dân bị ảnh hưởng.
Về tiến độ, dự án được điều chỉnh theo lộ trình hoàn thành và đưa vào vận hành trong năm 2027. Trong đó, năm 2026 dự kiến hoàn tất các thủ tục pháp lý, công tác giải phóng mặt bằng và triển khai xây dựng các hạng mục chính, tạo tiền đề cho giai đoạn thi công và lắp đặt thiết bị sau đó.

Về công nghệ, nhà máy dự kiến lắp đặt 516.996 tấm pin quang điện silic đơn tinh thể, chia thành 21 mảng pin, cùng với 950 bộ biến tần (inverter). Hệ thống pin được đặt trên các cụm phao nổi làm từ vật liệu HDPE và polyethylene, phù hợp với điều kiện vận hành trên mặt hồ. Điện năng được tạo ra từ hiệu ứng quang điện, sau đó chuyển đổi từ dòng điện một chiều sang xoay chiều qua inverter và được nâng áp để hòa vào lưới điện quốc gia ở cấp điện áp 500 kV.
Hạ tầng truyền tải điện được đầu tư đồng bộ với một trạm biến áp 500 kV công suất khoảng 375 MVA và tuyến đường dây 500 kV dài khoảng 2,9 km đấu nối với hệ thống điện hiện hữu. Bên cạnh đó, các tuyến đường dây 35 kV dài khoảng 3 km và tuyến cấp điện tự dùng 22 kV dài khoảng 0,3 km cũng được xây dựng nhằm đảm bảo khả năng vận hành ổn định của nhà máy.

Ngoài các hạng mục chính, dự án còn bao gồm khu quản lý vận hành với các công trình như nhà điều hành, nhà kho, nhà xe, hệ thống cấp nước, xử lý nước thải, phòng cháy chữa cháy và các tuyến đường nội bộ. Khu vực này được bố trí trên địa hình tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho thi công và vận hành lâu dài.
Đáng chú ý, việc triển khai dự án trên mặt hồ thủy điện mang lại nhiều lợi ích như tận dụng không gian mặt nước, giảm áp lực sử dụng đất và hạn chế xung đột với các mục đích sử dụng đất khác. Khu vực lắp đặt pin nằm trong vùng mực nước chết của hồ, do đó ít ảnh hưởng đến hoạt động phát điện hiện hữu của công trình thủy điện.
Tuy nhiên, do đặc thù nằm trên môi trường nước, dự án cũng được đánh giá có yếu tố nhạy cảm về môi trường. Các tác động tiềm ẩn bao gồm nguy cơ ảnh hưởng đến chất lượng nước hồ do nước mưa chảy tràn qua bề mặt pin, hoặc rủi ro phát sinh từ sự cố hư hỏng thiết bị. Ngoài ra, nước thải từ khu quản lý vận hành nếu không được xử lý đạt chuẩn cũng có thể gây tác động đến hệ sinh thái thủy sinh.


Theo quy định tại Nghị định số 48/2026/NĐ-CP, dự án được phân loại vào nhóm I, nhóm có yêu cầu cao về bảo vệ môi trường. Chủ đầu tư đã lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM), trong đó đề xuất các giải pháp kiểm soát như sử dụng vật liệu bền, hệ thống thu gom, xử lý nước thải đạt chuẩn, kiểm soát dòng chảy mặt và xây dựng phương án ứng phó sự cố môi trường.
Bên cạnh đó, dự án dự kiến ảnh hưởng đến một số hộ dân trong khu vực do thu hồi đất phục vụ xây dựng trạm biến áp và móng trụ đường dây. Do đó, công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cần được thực hiện đồng bộ, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa phát triển năng lượng và ổn định đời sống người dân.
Trong bối cảnh nhu cầu điện năng ngày càng tăng cao và áp lực giảm phát thải khí nhà kính, dự án Nhà máy điện mặt trời nổi KN Srêpốk 3 được kỳ vọng sẽ góp phần quan trọng trong việc đa dạng hóa nguồn cung điện, thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo tại khu vực Tây Nguyên. Đồng thời, mô hình điện mặt trời nổi cũng mở ra hướng khai thác hiệu quả tài nguyên mặt nước, phù hợp với định hướng phát triển bền vững của Việt Nam trong giai đoạn tới.