Đắk Lắk cấm một số nghề, ngư cụ khai thác thủy sản và khu vực khai thác thủy sản có thời hạn - Báo Nhân Dân
Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk vừa ban hành Kế hoạch số 453/KH-UBND triển khai Quyết định số 88/2026/QĐ-UBND ngày 17/8/2026 của Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Danh mục nghề, ngư cụ cấm sử dụng khai thác thủy sản; Danh mục khu vực cấm khai thác thủy sản có thời hạn ở vùng ven bờ, vùng lộng và vùng nội địa trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.

Theo Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk, mục đích của kế hoạch nhằm tổ chức triển khai kịp thời, đồng bộ và hiệu quả Quyết định số 88/2026/QĐ-UBND trên phạm vi toàn tỉnh. Tăng cường bảo vệ, tái tạo và phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản; bảo vệ các hệ sinh thái, khu vực sinh sản, sinh trưởng của các loài thủy sản, khu vực phát triển tự nhiên của các loại thủy sản còn non; từng bước xây dựng hoạt động khai thác thủy sản có trách nhiệm, bền vững.
Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và ý thức chấp hành của tổ chức, cá nhân. Ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi sử dụng nghề, ngư cụ bị cấm trong khai thác thủy sản và khai thác thủy sản trong khu vực, thời gian bị cấm theo quy định.
Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk yêu cầu việc triển khai Quyết định số 88/2026/QĐ-UBND đúng quy định của pháp luật, phù hợp với điều kiện thực tế địa phương; có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban, sở, ngành, lực lượng chức năng, chính quyền địa phương và cộng đồng ngư dân; bảo đảm hài hòa giữa bảo vệ nguồn lợi và sinh kế người dân.
Kế hoạch được triển khai trên toàn địa bàn tỉnh Đắk Lắk, bao gồm vùng ven bờ, vùng lộng và vùng nội địa thuộc phạm vi quản lý của tỉnh.
Đối tượng là các tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản, khai thác thủy sản trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Các cơ quan quản lý Nhà nước và các tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan…
Để việc triển khai kế hoạch đạt hiệu quả, Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk yêu cầu tổ chức tuyên truyền sâu rộng các quy định của pháp luật về bảo vệ và phát
triển nguồn lợi thủy sản; Quyết định số 88/2026/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh đến cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân trên địa bàn tỉnh, nhất là các tổ chức, cá nhân trực tiếp tham gia hoạt động khai thác thủy sản.
Đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật như: Thông qua các hội nghị, họp dân, hệ thống truyền thanh cơ sở, các cơ quan báo chí, cổng thông tin điện tử, mạng xã hội; các tài liệu như pano, áp phích, tờ rơi..., bảo đảm phù hợp với từng nhóm đối tượng và điều kiện thực tế của địa phương. Tập trung tuyên truyền tại các địa bàn trọng điểm, khu vực thường xảy ra vi phạm trong khai thác nguồn lợi thủy sản.
Nội dung tuyên truyền chú trọng làm rõ các hành vi bị nghiêm cấm trong khai thác thủy sản; tác hại của việc sử dụng ngư cụ cấm và khu vực cấm khai thác thủy sản có thời hạn; đồng thời phổ biến các quy định xử phạt vi phạm hành chính, trách nhiệm pháp lý của tổ chức, cá nhân vi phạm.
Lồng ghép công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ nguồn lợi thủy sản với các phong trào, chương trình phát triển kinh tế-xã hội của địa phương như xây dựng nông thôn mới, bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, phát triển sinh kế bền vững; vận động người dân tham gia các hoạt động tái tạo nguồn lợi thủy sản và chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật.
Vận động tổ chức, cá nhân ký cam kết không vi phạm quy định về khai thác
thủy sản, phối hợp phát hiện và tố giác các hành vi vi phạm.
Gắn liền với công tác tuyên truyền là quản lý chặt chẽ hoạt động khai thác, nuôi trồng thủy sản; hướng dẫn người dân chuyển đổi nghề khai thác thủy sản, phương thức khai thác thân thiện với môi trường. Tổ chức thả giống tái tạo nguồn lợi thủy sản; bảo vệ các khu vực sinh sản, cư trú tự nhiên của các loài thủy sản bản địa, có giá trị kinh tế.
Siết chặt quản lý khu vực cấm khai thác thủy sản có thời hạn trên địa bàn tỉnh; ưu tiên đầu tư các dự án phục hồi hệ sinh thái tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học.
Thành lập và phát huy vai trò của các tổ chức cộng đồng trong bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản.
Cùng với đó, các cấp, các ngành tăng cường tổ chức các đợt tuần tra, kiểm tra liên ngành trên các hồ thủy điện, sông, suối, ao hồ tự nhiên, vùng ven biển trên địa bàn tỉnh; tập trung vào các địa bàn trọng điểm, khu vực có nguy cơ cao, thời điểm nhạy cảm thường xảy ra tình trạng khai thác thủy sản có tính hủy diệt.
Chủ động nắm tình hình, kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ nguồn lợi thủy sản, nhất là các hành vi sản xuất,
buôn bán, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng ngư cụ cấm để khai thác thủy sản và các hành vi khai thác thủy sản tại khu vực cấm khai thác thủy sản có thời hạn trên địa bàn tỉnh.
Tăng cường phối hợp giữa các lực lượng chức năng và chính quyền địa phương trong công tác kiểm tra, xử lý vi phạm; công khai kết quả xử lý trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm răn đe, phòng ngừa chung. Đồng thời, kết hợp kiểm tra với tuyên truyền, vận động người dân chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật, từng bước nâng cao ý thức trách nhiệm trong bảo vệ và phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản.
Theo Quyết định số 88/2026/QĐ-UBND ngày 17/8/2026 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk ban hành Danh mục nghề, ngư cụ cấm sử dụng khai thác thủy sản; Danh mục khu vực cấm khai thác thủy sản có thời hạn ở vùng ven bờ, vùng lộng và vùng nội địa trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, những nghề, ngư cụ cấm sử dụng khai thác thủy sản gồm: nghề lưới kéo (trừ lưới kéo moi/ruốc); nghề lồng xếp (lờ dây, bát quái, dớn, lừ); các nghề: đáy, xăm, chấn, xiệp, xịch, te, xẻo kết hợp với tàu có gắn động cơ; nghề cào đáy bằng khung sắt có kết hợp với tàu, máy kéo, bơm thổi (cào lươn, cào nhuyễn thể, banh lông), phạm vi vùng lộng, vùng ven bờ, vùng nội địa; nghề kết hợp ánh sáng (trừ nghề câu tay mực), phạm vi vùng ven bờ.
Các loại ngư cụ gồm: rê trích; rê thu ngừ; rê mòi; vây, vó, mành, rút, rùng hoạt động ngoài vụ cá cơm; nò, sáo, quầng; các loại lưới đánh cá cơm; lưới kéo hoạt động vùng lộng; lưới chụp, lồng bẫy ở vùng lộng, tùy từng kích thước mắt lưới tối thiểu tại bộ phận tập trung thủy sản đối với ngư cụ khai thác nguồn lợi thủy sản ở vùng ven bờ, vùng lộng.
Các loại ngư cụ: rê trích; rê thu ngừ; rê mòi; vây, vó, mành, rút, rùng hoạt động ngoài vụ cá cơm; nò, sáo, quầng; các loại lưới đánh cá cơm; lưới kéo hoạt động vùng lộng; lưới chụp, lồng bẫy ở vùng lộng, tùy từng kích thước mắt lưới tối thiểu tại bộ phận tập trung thủy sản đối với ngư cụ khai thác nguồn lợi thủy sản ở vùng nội địa.
Theo Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk, việc ban hành Danh mục nghề, ngư cụ cấm sử dụng khai thác thủy sản và Danh mục khu vực cấm khai thác thủy sản có thời hạn ở vùng ven bờ, vùng lộng và vùng nội địa trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk nhằm thực hiện hiệu quả Quyết định số 389/QĐ-TTg ngày 9/5/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch bảo vệ và khai thác nguồn lợi thủy sản thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến 2050.