Vươn khơi nuôi biển công nghệ cao - Báo Sài Gòn Giải Phóng
Nghị quyết 20-NQ/TW xác định nuôi biển là một hướng đột phá, chuyển mạnh sang nuôi công nghiệp, công nghệ cao, xa bờ. Để phát triển, người nuôi cần nguồn giống, công nghệ phù hợp, thị trường và quyền sử dụng khu vực biển ổn định.
Chủ động giống, công nghệ nuôi, thị trường
Ông Lê Hữu Tình, Phó Giám đốc Công ty TNHH Thủy sản Đắc Lộc (tỉnh Đắk Lắk), nhận định: mấu chốt khi vươn khơi nuôi biển là giống và công nghệ. Con giống phải thích nghi, tăng trưởng tốt, đáp ứng nhu cầu thị trường và hạn chế dịch bệnh. Cá chim vây vàng và cá bớp được doanh nghiệp lựa chọn làm hai đối tượng chiến lược. Để thích ứng với sóng gió xa bờ, doanh nghiệp lựa chọn lồng bằng vật liệu HDPE; đồng thời ứng dụng công nghệ sinh học, số hóa dữ liệu lồng bè, thiết bị và máy móc vận hành.
“Đến năm 2045, doanh nghiệp hướng tới mô hình nuôi biển công nghiệp quy mô hàng hóa, hình thành các “cánh đồng mẫu lớn trên biển” để đáp ứng đủ nguyên liệu chế biến và xuất khẩu trực tiếp”, ông Tình cho biết. Trước mắt, doanh nghiệp đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt 1.000 tấn cá thương phẩm mỗi năm, hoàn thiện truy xuất nguồn gốc từ vùng sản xuất đến bàn ăn và mở rộng thị trường xuất khẩu.
Theo ông Tình, vì quy hoạch chậm triển khai khiến doanh nghiệp chưa có cơ sở rõ ràng để được giao mặt nước, xác định vùng nuôi và đầu tư dài hạn. Vì vậy, cần cụ thể hóa quy hoạch, đặc biệt là vùng nuôi cá bố mẹ để chủ động nguồn giống chất lượng.

Ngoài Đắk Lắk, nhiều địa phương cũng đang xây dựng “cánh đồng mẫu lớn trên biển”. Đến Quảng Ninh, chúng tôi chứng kiến nghề nuôi biển đang chuyển từ nhỏ lẻ sang quy mô công nghiệp. Tỉnh dành hơn 45.000ha vùng biển để tích hợp vào Quy hoạch tỉnh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050; đồng thời đề xuất bổ sung gần 95.000ha, nâng tổng diện tích quy hoạch nuôi biển lên gần 140.000ha.
Tại Vân Đồn, Hợp tác xã Cường Hoa chuyển từ lồng gỗ sang lồng HDPE để nuôi cá chim vây vàng. Theo ông Nguyễn Văn Cường, Giám đốc hợp tác xã, sau 10 tháng thả giống, năng suất đạt trên 19kg/m3, lợi nhuận tăng 13% so với phương pháp truyền thống, đồng thời giảm ô nhiễm và dịch bệnh.
Cũng tại Vân Đồn, Công ty cổ phần Tập đoàn STP Group hợp tác với 21 hợp tác xã xây dựng chuỗi khép kín từ vùng nuôi, sơ chế đến xuất khẩu. Doanh nghiệp hướng tới ứng dụng lồng HDPE cải tiến, năng lượng tái tạo và kinh tế tuần hoàn để giảm phát thải, kết hợp du lịch trải nghiệm. STP Group kiến nghị có tín dụng ưu đãi riêng cho nuôi biển công nghệ cao, rút ngắn thủ tục cấp phép, thủ tục về môi trường và xây dựng bộ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.
Hải Phòng cũng định hướng tổ chức lại sản xuất theo hướng tập trung với hơn 23.900ha mặt nước. Trong đó Tiên Lãng có gần 1.900ha nuôi nhuyễn thể; vùng mặn lợ tập trung các đối tượng chủ lực như tôm sú, tôm thẻ chân trắng.
Theo kế hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển đến năm 2030, tầm nhìn 2045, thành phố ổn định nghề nuôi cá lồng bè tại Cát Hải, phát triển nuôi biển xa bờ theo hướng công nghiệp tại Cát Bà - Bạch Long Vĩ, gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Thành phố đề nghị Trung ương hỗ trợ đầu tư hạ tầng vùng nuôi ven biển và ngoài khơi để chuyển đổi công nghệ, nâng quy mô và giá trị sản xuất.
Có quyền sử dụng biển mới mạnh dạn đầu tư
Ông Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, nhìn nhận: người nuôi phải được giao quyền sử dụng khu vực biển lâu dài, cùng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn rõ ràng, mới yên tâm đầu tư lớn và ứng dụng công nghệ hiện đại. Cả nước hiện có gần 10.000 cơ sở nuôi biển, nhưng chủ yếu tập trung trong phạm vi 3 hải lý; phần lớn sử dụng công nghệ truyền thống. Một số mô hình nuôi tuần hoàn (RAS), nuôi đa dinh dưỡng tích hợp (IMTA), lồng HDPE và dự án nuôi xa bờ trên 3 hải lý đã cho kết quả khả quan.
Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư Trần Đình Luân cho rằng, nuôi biển đã có bước tiến nhưng tổ chức sản xuất chưa mạnh. Một mắt xích quan trọng đang được xây dựng, bổ sung là Tiêu chuẩn Việt Nam dành riêng cho cơ sở nuôi biển công nghiệp, do Cục Thủy sản và Kiểm ngư xây dựng và vừa tổ chức lấy ý kiến từ giới chuyên gia hồi cuối tháng 6-2026. Tiêu chuẩn được kỳ vọng tạo cơ sở thống nhất cho quy hoạch, thiết kế, xây dựng, vận hành và quản lý trang trại nuôi biển quy mô lớn; từ đó thu hút đầu tư, phát triển bảo hiểm và quản lý rủi ro trong chuỗi sản xuất.
Theo ông Phùng Đức Tiến, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, phát triển nuôi biển công nghiệp là trụ cột trong chiến lược phát triển kinh tế biển bền vững nhằm giảm áp lực khai thác ven bờ, gia tăng giá trị xuất khẩu và vị thế thủy sản Việt Nam. Cần sớm ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn, thu hút doanh nghiệp có tiềm lực và công nghệ để tiến ra xa bờ.