Truy xuất nguồn gốc nông sản: 158.234 sản phẩm đã được kết nối dữ liệu - Báo Đại Đoàn Kết

Sau hơn một tháng chính thức đưa vào sử dụng, Hệ thống truy xuất nguồn gốc (TXNG) nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NNMT) đã có 5 tỉnh, thành phố gồm Hà Nội, Thái Nguyên, Hưng Yên, Quảng Ninh và Đắk Lắk báo cáo bảo đảm các điều kiện cần thiết để thực hiện truy xuất nguồn gốc. Tổng cộng 48.754 sản phẩm thuộc 9 dòng sản phẩm của 19 doanh nghiệp (DN) đã thực hiện truy xuất và cập nhật dữ liệu vào hệ thống.

Truy xuất nguồn gốc nông sản: 158.234 sản phẩm đã được kết nối dữ liệu - Báo Đại Đoàn Kết

Bộ NNMT vừa có báo cáo gửi Thủ tướng Chính phủ về kết quả xây dựng Hệ thống TXNG nông, lâm, thủy sản. Hệ thống TXNG nông sản được Bộ công bố và chính thức đưa vào sử dụng từ ngày 1/7/2026.

Theo báo cáo có 09 DN cung cấp giải pháp công nghệ TXNG đã thực hiện kết nối với Hệ thống TXNG nông sản của Bộ. Có 04 DN sản xuất, thương mại nông sản (gồm: Thaibinh Seed, Lộc Trời, Masan và Thiên Vương) đã kết nối Hệ thống TXNG của các DN (tự phát triển) với Hệ thống TXNG nông sản của Bộ.  05 tỉnh, thành phố (gồm: Hà Nội, Thái Nguyên, Hưng Yên, Quảng Ninh và Đắk Lắk) báo cáo bảo đảm các điều kiện cần thiết để thực hiện TXNG.  Tổng cộng có 48.754 sản phẩm thuộc 09 dòng sản phẩm, của 19 DN đã thực hiện TXNG và cập nhật dữ liệu vào Hệ thống TXNG của Bộ.

Ở quy mô lũy kế, kể từ khi Bộ NNMT công bố Hệ thống TXNG nông sản, đã có thêm 9 đơn vị cung cấp giải pháp công nghệ TXNG gửi hồ sơ đăng ký kết nối. Các hồ sơ hiện đang được xem xét, phê duyệt để triển khai kết nối theo quy định.

Đồng thời, thêm 5 tỉnh, thành phố báo cáo kết quả triển khai TXNG nông sản, nâng tổng số địa phương đã có báo cáo lên 24/34 tỉnh, thành phố.

Tổng dữ liệu do các đơn vị cung cấp giải pháp TXNG và các tỉnh, thành phố kết nối, cập nhật vào hệ thống của Bộ đạt 158.234 sản phẩm thuộc 18.524 dòng sản phẩm, của 200 DN và 2.948 hộ dân, hợp tác xã tại 24/34 tỉnh, thành phố.

Tại Hà Nội, hệ thống TXNG của thành phố có trên 3.000 cơ sở và trên 12.000 sản phẩm. Trong số này, khoảng 5% sản phẩm đã đáp ứng đầy đủ thông tin theo yêu cầu kết nối của Hệ thống TXNG Bộ.

Tổng dữ liệu do các đơn vị cung cấp giải pháp TXNG và các tỉnh, thành phố kết nối, cập nhật vào hệ thống của Bộ đạt 158.234 sản phẩm. Ảnh: NN

Tại Thái Nguyên, hệ thống quản lý chất lượng nông sản có 533 tài khoản, 5.136 cơ sở, 222 vùng sản xuất và quản lý 149 mã số vùng trồng. Có 6 DN, hợp tác xã đáp ứng kết nối với Hệ thống của Bộ.

Hưng Yên đã kết nối, tích hợp và đồng bộ dữ liệu qua API, với 536 đơn vị, 1.179 sản phẩm và 76 lô sản xuất. Quảng Ninh đã đồng bộ 1.097 cơ sở, 2.689 sản phẩm và 78 lô sản xuất, đạt 100% dữ liệu sẵn có trên hệ thống của tỉnh.

Trong khi đó, Đắk Lắk bước đầu thực hiện kết nối, đồng bộ dữ liệu của một hợp tác xã sản xuất sầu riêng với Hệ thống TXNG của Bộ.

Về nhiệm vụ trong thời gian tới, Bộ NNMT cho biết, sẽ hoàn thành việc tiếp nhận và quản trị hệ thống; kiểm kê đầy đủ mã nguồn, tài liệu, tài khoản, quyền quản trị và các thành phần kỹ thuật; đồng thời hoàn thiện quy trình vận hành, sao lưu, giám sát và xử lý sự cố.

Bộ cũng sẽ chuẩn hóa dữ liệu và kết nối, thống nhất bộ chỉ tiêu, nguồn số liệu, phương pháp tính; hoàn thiện chuẩn dữ liệu, API, quy trình kiểm thử, xác nhận kết nối và đối soát dữ liệu.

Cùng với đó, Bộ sẽ đẩy nhanh kết nối với các địa phương, ưu tiên những địa phương đã có dữ liệu, hệ thống và sản phẩm chủ lực; thực hiện nguyên tắc kế thừa hệ thống hiện có, dữ liệu tạo lập một lần được khai thác, sử dụng nhiều lần.

Một nhiệm vụ khác là hoàn thiện TXNG sầu riêng theo chuỗi, kết nối dữ liệu mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, kiểm nghiệm, kiểm dịch và lô hàng xuất khẩu, trên cơ sở đó lựa chọn các sản phẩm chủ lực để mở rộng. Cách tiếp cận này cho thấy truy xuất nguồn gốc đang được định hướng theo chiều sâu, thay vì chỉ xác định nơi sản xuất cuối cùng. Mục tiêu là hình thành dòng dữ liệu xuyên suốt quá trình từ sản xuất đến lưu thông và xuất khẩu.

Khanh Lê