Số hóa dữ liệu để 'giải nghẽn' cho trái cây xuất khẩu - Tạp chí Kinh Tế Sài Gòn

'Lỗ hổng' trong quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói khiến việc truy xuất nguồn gốc trái cây xuất khẩu gặp không ít trở ngại. Do đó, chuẩn hóa quy trình quản lý thông qua số hóa dữ liệu được xem là giải pháp 'giải nghẽn' cho trái cây xuất khẩu.

Số hóa dữ liệu để 'giải nghẽn' cho trái cây xuất khẩu - Tạp chí Kinh Tế Sài Gòn

Tại hội nghị trực tuyến về “Tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong cấp, quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và công tác kiểm nghiệm rau quả xuất khẩu” diễn ra mới đây, ông Hồ Quốc Dũng, Phó Thủ tướng Chính phủ, cho biết ngành rau quả kỳ vọng đạt kim ngạch xuất khẩu 10 tỉ đô la Mỹ trong năm nay. Trong đó, sầu riêng dự kiến mang về 4,5 tỉ đô la, góp phần vào mục tiêu xuất khẩu 74 tỉ đô la của toàn ngành nông, lâm, thủy sản.

Tuy nhiên, nhiều bất cập trong quản lý tại địa phương đã bộc lộ khi thị trường nhập khẩu “siết” chặt rào cản kỹ thuật. “Không có mã số vùng trồng, không kiểm nghiệm đạt chuẩn thì không thể xuất khẩu”, ông Dũng nói và cho biết, nhiều địa phương còn thiếu nhân lực, chưa quan tâm đúng mức đến công tác này.

Ngành cây ăn trái gặp khó do nghẽn mã số lẫn kiểm nghiệm. Ảnh: KA

“Điểm nghẽn” cho xuất khẩu

Ông Hoàng Trung, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho biết đến tháng 5-2026, cả nước có 9.546 mã số vùng trồng và 1.525 mã số cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu sang các thị trường, gồm Trung Quốc, Mỹ, Úc, New Zealand, Hàn Quốc và Nhật Bản.

Riêng thị trường Trung Quốc có 4.323 mã số vùng trồng và 1.332 mã số cơ sở đóng gói được cấp. Trong đó, sầu riêng có 1.191 mã số vùng trồng và 128 mã số cơ sở đóng gói đang hoạt động. Ngoài ra, còn 798 mã số vùng trồng và 264 mã số cơ sở đóng gói đang chờ Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) phê duyệt.

Dù vậy, trong quá trình triển khai xuất khẩu đã xuất hiện tình trạng không đáp ứng yêu cầu từ phía nhập khẩu, khiến nhiều mã số bị đình chỉ hoặc thu hồi.

Theo đó, từ năm 2025 đến nay, riêng Trung Quốc đã cảnh báo vi phạm đối với 403 mã số vùng trồng và 240 mã số cơ sở đóng gói. Trong đó, có 167 mã số vùng trồng và 99 mã số cơ sở đóng gói bị tạm dừng hoặc thu hồi, chưa được khôi phục.

Theo ông Hoàng Trung, một số địa phương, doanh nghiệp và người dân vẫn xem mã số vùng trồng là điều kiện để xuất khẩu trước mắt, thay vì công cụ quản lý chất lượng lâu dài.

Tình trạng vi phạm trong sử dụng mã số và khó khăn trong duy trì điều kiện kỹ thuật vẫn diễn biến phức tạp. “Thậm chí, gần đây nổi lên tình trạng mua bán mã số, quay vòng mã số, sử dụng mã số không đúng thực tế”, ông Trung đánh giá.

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng cũng thẳng thắn đề cập tình trạng tiêu cực trong cấp mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói. Thậm chí, có địa phương đùn đẩy trách nhiệm, giải quyết hồ sơ chậm, ảnh hưởng đến uy tín nông sản Việt Nam.

Không chỉ khó khăn trong quản lý mã số, năng lực kiểm nghiệm cũng đang trở thành “nút thắt” lớn đối với xuất khẩu rau quả nói chung, nhất là mặt hàng sầu riêng hiện nay.

Ông Nguyễn Thiên Văn, Phó chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk, cho biết địa phương hiện có 277 mã số vùng trồng sầu riêng với diện tích khoảng 7.500 héc ta và 54 mã số cơ sở đóng gói, nhưng thiếu cơ sở kiểm nghiệm đạt chuẩn. “Khó khăn lớn nhất là thiếu cơ sở kiểm nghiệm tại chỗ, trong khi gửi mẫu ra ngoài tỉnh làm tăng chi phí logistics và nguy cơ gây ùn ứ hàng hóa trong mùa thu hoạch”, ông Văn cho biết.

Thực tế, theo ông Hoàng Trung, đến ngày 11-5, chỉ có 18 phòng kiểm nghiệm của Việt Nam được GACC công nhận đủ điều kiện kiểm Cadimi và 19 phòng đủ điều kiện kiểm nghiệm Vàng O.

Trong khi đó, ông Nguyễn Ngọc Phúc, Phó chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng, cho biết dù địa phương đã có hai phòng kiểm nghiệm được Trung Quốc công nhận đủ năng lực phân tích Cadimi và Vàng O nhưng nguy cơ quá tải vẫn rất lớn trong mùa cao điểm.

Theo ông Phúc, sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, việc cập nhật dữ liệu vùng trồng, cơ sở đóng gói phát sinh nhiều vướng mắc, ảnh hưởng đến tiến độ chuẩn hóa dữ liệu theo quy định mới. “Hiện nay, chế tài xử phạt đối với hành vi gian lận mã số chưa có, gây khó khăn cho công tác kiểm tra và xử lý”, ông nói.

Số hóa dữ liệu để minh bạch nguồn hàng xuất khẩu. Ảnh: Trung Chánh

Số hóa dữ liệu để minh bạch nguồn hàng

Việc quản lý mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói chưa chặt chẽ đã dẫn đến tình trạng đơn vị xuất khẩu gom hàng từ nhiều vườn khác nhau. Đây cũng là nguyên nhân khiến sản phẩm khi kiểm nghiệm trong nước đạt yêu cầu nhưng phía Trung Quốc tái kiểm lại phát hiện vi phạm.

Thực tế hiện nay, sầu riêng chủ yếu được lấy mẫu tại container dựa trên thông tin mã số vùng trồng do đơn vị đưa hàng cung cấp, thay vì được quản lý xuyên suốt từ vùng trồng. Điều này, làm gia tăng nguy cơ sai lệch về nguồn gốc sản phẩm. “Nếu chúng ta làm từ trang trại thì sẽ biết được vùng đó có Cadimi hay không, chứ người ta đem container đến thì làm sao biết được trang trại ở đâu”, ông Lê Xuân Định, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ đặt vấn đề.

Trước những bất cập đó, yêu cầu đặt ra là cần sớm xây dựng hệ thống quản lý đồng bộ để số hóa dữ liệu toàn chuỗi sản xuất và xuất khẩu. Bởi lẽ, việc hình thành cơ sở dữ liệu dùng chung giữa bộ ngành, địa phương, doanh nghiệp, hải quan, phòng kiểm nghiệm và đơn vị vận chuyển sẽ giúp tăng khả năng truy xuất nguồn gốc điện tử.

Khi dữ liệu được kết nối đồng bộ, cơ quan quản lý có thể kiểm soát sản lượng, diện tích vùng trồng, chất lượng sản phẩm cũng như hạn chế tình trạng trà trộn hàng hóa hoặc gian lận mã số vùng trồng.

Việc xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung trên phạm vi toàn quốc kết hợp ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói được xem là giải pháp quan trọng nhằm minh bạch nguồn hàng và nâng cao hiệu quả kiểm soát. Đồng thời, cần có cơ chế chia sẻ dữ liệu cảnh báo vi phạm giữa Trung ương và địa phương để kịp thời xử lý các trường hợp vi phạm.

Ông Hoàng Trung cho biết, hiện Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang cho triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc đồng bộ từ mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói đến các phòng kiểm nghiệm, kết nối với cổng truy xuất nguồn gốc quốc gia. Theo định hướng này, các sản phẩm chủ lực và sản phẩm có rủi ro cao sẽ được quản lý theo chuỗi thay vì chỉ kiểm soát ở khâu cuối cùng.

Song song đó, một số địa phương cũng đang chuyển hướng cấp mã số vùng trồng trực tiếp cho nông dân và hợp tác xã sản xuất, thay vì cấp cho doanh nghiệp xuất khẩu như trước đây.

Cách làm này giúp nâng cao trách nhiệm của người sản xuất trong quản lý, bảo vệ vùng trồng, đồng thời, buộc doanh nghiệp phải liên kết chặt chẽ hơn với nông dân nếu muốn duy trì xuất khẩu.

Ngoài giải pháp số hóa, việc sớm ban hành quy định xử phạt đối với hành vi gian lận trong sử dụng mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói là cơ sở quan trọng để siết chặt quản lý, góp phần minh bạch hóa ngành hàng trái cây xuất khẩu của Việt Nam.

Trung Chánh