Sầu riêng Đắk Lắk: Kỳ vọng giá trị xuất khẩu niên vụ 2026 vượt mốc 1 tỷ USD - Báo VietnamPlus
Trong bối cảnh các thị trường nhập khẩu chú trọng tiêu chuẩn kỹ thuật, việc củng cố liên kết sản xuất và nâng cao năng lực đáp ứng quy định quốc tế sẽ góp phần phát huy giá trị của sầu riêng Đắk Lắk.

Sau những kết quả tích cực về xuất khẩu, các hoạt động quảng bá thương hiệu và xúc tiến thương mại, ngành hàng sầu riêng Đắk Lắk đang đứng trước yêu cầu nâng cao chất lượng quản lý vùng trồng, chuẩn hóa dữ liệu truy xuất nguồn gốc và bảo đảm an toàn trong chế biến.
Trong bối cảnh các thị trường nhập khẩu ngày càng chú trọng tiêu chuẩn kỹ thuật, việc củng cố liên kết sản xuất, hoàn thiện hạ tầng quản lý và nâng cao năng lực đáp ứng quy định quốc tế sẽ góp phần duy trì đà tăng trưởng, phát huy giá trị của sầu riêng địa phương.
Liên kết vùng trồng, nâng cao năng lực truy xuất nguồn gốc
Theo Sở Công Thương tỉnh Đắk Lắk, kim ngạch xuất khẩu sầu riêng chính thức ghi nhận qua thống kê trên địa bàn tỉnh trong 9 tháng năm 2026 ước đạt 262,3 triệu USD. Tuy nhiên, con số này chưa phản ánh đầy đủ giá trị sầu riêng có nguồn gốc từ địa phương, do một phần sản lượng được thương nhân thu mua, đóng gói và mở tờ khai xuất khẩu tại các tỉnh, thành phố khác.
Theo Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Đỗ Hữu Huy, sầu riêng có nguồn gốc Đắk Lắk đã mang về nguồn ngoại tệ trên 900 triệu USD; tỉnh kỳ vọng giá trị xuất khẩu của cả niên vụ 2026 vượt mốc 1 tỷ USD. Hoạt động quảng bá và xúc tiến thương mại cũng ghi nhận những kết quả đáng chú ý.
Lễ hội Sầu riêng Đắk Lắk năm 2026 với 18 hoạt động chính đã thu hút khoảng 750.000 lượt khách, mang lại tổng thu từ dịch vụ du lịch hơn 1.295 tỷ đồng, tiêu thụ trực tiếp khoảng 600 tấn sầu riêng tươi, trị giá 44 tỷ đồng. Sự kiện cũng ghi nhận 9 biên bản ghi nhớ hợp tác phát triển chuỗi giá trị sầu riêng, với tổng mức đầu tư đăng ký gần 9.000 tỷ đồng.
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Lắk Đỗ Hữu Huy cho biết, lễ hội ban đầu dự kiến đón khoảng 300.000 - 400.000 lượt khách, nhưng lượng khách thực tế đạt khoảng 750.000 lượt, cho thấy sức hút của thương hiệu nông sản địa phương và tiềm năng kết hợp phát triển nông nghiệp với du lịch.
Hoạt động xúc tiến thương mại trên nền tảng số cũng mở ra những cơ hội mới. Tại xã Ea Knuếc, phiên livestream quốc tế trong mùa lễ hội đã hỗ trợ xuất khẩu 6 container sầu riêng, tương đương 108 tấn, sang thị trường Trung Quốc. Trong khi đó, xã Krông Pắc tổ chức đấu giá 14,36 ha sầu riêng Dona, với sản lượng khoảng 350 tấn, đạt giá trị hơn 23,5 tỷ đồng.
Bên cạnh những kết quả tích cực, yêu cầu đáp ứng quy định về truy xuất nguồn gốc tại các thị trường nhập khẩu đang đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục tháo gỡ. Bà Ngô Tường Vy, đại diện Công ty cổ phần Tập đoàn Xuất khẩu Trái cây Chánh Thu (Đắk Lắk), cho biết thị trường Trung Quốc yêu cầu mỗi container sầu riêng xuất khẩu chỉ gắn với một mã số vùng trồng duy nhất.
Trong khi đó, hoạt động canh tác tại Đắk Lắk và khu vực Tây Nguyên vẫn có đặc điểm phân tán, khiến việc tổ chức vùng nguyên liệu đáp ứng đầy đủ yêu cầu còn gặp khó khăn.
Theo bà Vy, quá trình phê duyệt mã số vùng trồng phụ thuộc vào cơ quan có thẩm quyền phía nhập khẩu, thời gian chờ đợi có thể kéo dài. Số lượng mã số được cấp hiện mới đáp ứng hơn 20% nhu cầu, trong khi sản lượng xuất khẩu đáp ứng đầy đủ yêu cầu về mã số vùng trồng thực tế chưa tới 15%.
Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Đắk Lắk Nguyễn Hắc Hiển cho rằng, một trong những thách thức đối với doanh nghiệp là bảo đảm sự thống nhất giữa sản phẩm thực tế, mã số vùng trồng và hồ sơ truy xuất nguồn gốc, nhất là khi thu mua nguyên liệu từ nhiều hộ sản xuất.
Vì vậy, cần tăng cường kiểm soát ngay từ khâu thu hoạch, thu mua, phân loại và đóng gói, đồng thời nâng cao trách nhiệm của các bên tham gia chuỗi cung ứng.
Công tác số hóa dữ liệu canh tác cũng cần được đẩy mạnh theo hướng đồng bộ. Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk Đặng Thị Thủy cho biết, thời gian qua, một số doanh nghiệp và hợp tác xã phát triển các giải pháp công nghệ riêng, dẫn đến dữ liệu chưa được kết nối thống nhất.
Việc hướng dẫn nông dân sử dụng phần mềm, cập nhật nhật ký canh tác điện tử cũng cần được triển khai phù hợp với điều kiện thực tế tại cơ sở.
Theo bà Thủy, bên cạnh việc hoàn thiện hệ thống dữ liệu dùng chung, cần tăng cường phối hợp giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp, hợp tác xã và chính quyền địa phương để hỗ trợ người dân thực hiện các quy trình số hóa.
Khi dữ liệu vùng trồng được cập nhật đầy đủ, thống nhất với hệ thống quản lý và kiểm dịch, hoạt động truy xuất nguồn gốc sẽ thuận lợi hơn, góp phần nâng cao khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu.
Chuẩn hóa chế biến, củng cố niềm tin thị trường
Bà Nguyễn Thị Thái Thanh - Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Ban Mê Green Farm (Đắk Lắk), đơn vị đang vận hành 3 nhà máy chế biến nông sản công nghệ cao bày tỏ, hiện nay, các doanh nghiệp chế biến sâu đang hoạt động trong tình trạng thiếu hành lang pháp lý chuẩn mực.
Điểm nghẽn nan giải nhất là sự thiếu hụt các quy định cụ thể về danh mục thuốc bảo vệ thực vật và chế phẩm xử lý sau thu hoạch. Các quy định hiện hành vẫn còn rất chung chung, không có hướng dẫn chỉ định đích danh loại hoạt chất nào được phép dùng.
Sự thiếu hướng dẫn này gây khó cho các doanh nghiệp xuất khẩu chân chính, bởi bất cứ lúc nào doanh nghiệp cũng có thể vướng rủi ro pháp lý khi bị kiểm tra dư lượng.
Để chấn chỉnh thị trường, Báo cáo số 445/BC-SCT của Sở Công Thương Đắk Lắk nêu rõ yêu cầu tăng cường kiểm tra hoạt động thu mua, kinh doanh và hoàn thiện Quy chế quản lý mua bán sầu riêng nhằm ngăn chặn gian lận, mất an toàn thực phẩm.
Đóng vai trò cầu nối dẫn dắt ngành hàng, Hiệp hội Sầu riêng Đắk Lắk đang tích cực đồng hành cùng chính quyền để kiến tạo chuỗi liên kết bền vững, hỗ trợ tháo gỡ điểm nghẽn kỹ thuật cho hội viên.
Ông Lê Anh Trung - Chủ tịch Hiệp hội Sầu riêng Đắk Lắk nhấn mạnh, người trồng phải dứt khoát từ bỏ tư duy làm ăn nhỏ lẻ để chủ động tham gia hợp tác xã, liên kết nhóm hộ tạo vùng nguyên liệu đủ lớn được cấp mã số. Các hợp tác xã phải đi đầu số hóa quy trình canh tác, từ nhật ký điện tử, thời gian cách ly thuốc bảo vệ thực vật đến minh bạch dữ liệu đầu vào.
“Chỉ khi liên kết có kỷ cương và chuẩn hóa quy trình trên nền tảng số, chúng ta mới tạo được vùng trồng đạt chuẩn, đủ sức bảo vệ thương hiệu trước sự kiểm tra khắt khe của quốc tế,” ông Trung khẳng định.
Minh bạch quy trình canh tác, chuẩn hóa tiêu chuẩn sơ chế bóc múi và siết chặt kỷ cương toàn bộ chuỗi cung ứng chính là chìa khóa duy nhất để sầu riêng Đắk Lắk bảo vệ uy tín thương hiệu, giữ vững vị thế tỷ đô trên trường quốc tế./.