Những trải nghiệm nhỏ, bài học lớn của học sinh Đắk Lắk - Báo Giáo Dục & Thời Đại

Từ tranh lá cây đến chăm sóc trường lớp, những trải nghiệm gần gũi tạo cơ hội để học sinh tự làm, hợp tác và tự tin chia sẻ.

Những trải nghiệm nhỏ, bài học lớn của học sinh Đắk Lắk - Báo Giáo Dục & Thời Đại

“Em rất vui khi được tự tay làm tranh từ những chiếc lá. Em thích nhất là được sáng tạo ra bức tranh của riêng mình!”. Lời chia sẻ của một học sinh Trường Tiểu học Quốc Tế, phường Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk, gợi mở điều trẻ mong đợi ở giờ học: được tham gia, được lựa chọn và có sản phẩm mang ý tưởng riêng.

Một học sinh khác nói về điều đọng lại sau hoạt động trải nghiệm: “Qua hoạt động này, em học được cách quan sát, sáng tạo và biết yêu quý thiên nhiên hơn. Em mong sẽ được tham gia nhiều hoạt động thú vị như thế này!”.

Học sinh Trường Tiểu học Quốc Tế cùng nhau sáng tạo trong không gian mở ở hoa viên dưới sự hướng dẫn của giáo viên. (Ảnh: TT)

Từ niềm vui tự tay làm tranh đến mong muốn tiếp tục trải nghiệm là những phản hồi đáng để giáo viên lắng nghe. Đó cũng là điểm khởi đầu cho câu chuyện đổi mới cách tổ chức dạy học, đưa kiến thức đến gần học sinh bằng những nhiệm vụ vừa sức.

Bài học từ những chiếc lá

Trong chủ đề Mĩ thuật “Chú sâu ngộ nghĩnh từ lá cây”, vật liệu quen thuộc trở thành học liệu để học sinh quan sát, lựa chọn và tạo hình. Bài học được thiết kế trong 2 tiết dành cho lớp 1A1 song ngữ, tại hoa viên của phường (đối diện trường).

Từ những chiếc lá nhặt trong hoa viên, dưới sự hướng dẫn của cô giáo, các em sáng tạo thành tác phẩm mĩ thuật. (Ảnh: TT)

Cô Huỳnh Thị Thúy Vy, giáo viên Mĩ thuật, cho hay hoạt động bắt đầu từ việc nhận biết hình dạng, màu sắc, kích thước lá. Những câu hỏi về chiếc lá dài, tròn hay nhỏ giúp học sinh chú ý đến đặc điểm vật liệu, liên hệ với hình dáng con vật trước khi thực hành.

Giáo viên giới thiệu mẫu, hướng dẫn chọn nền, chọn lá, xếp thử rồi dán. Học sinh bổ sung mắt, miệng bằng lá nhỏ, giấy màu hoặc nét vẽ, đồng thời được khuyến khích tìm cách sắp xếp phù hợp với ý tưởng.

Bước xếp thử dành cho học sinh một khoảng thời gian cân nhắc. Chiếc lá có thể được chuyển vị trí, phần thân chú sâu có thể được bố trí lại. Qua những lựa chọn ấy, học sinh có cơ hội điều chỉnh cách làm trước khi hoàn thiện.

Từ trải nghiệm thực tế, học sinh được khuyến khích sáng tạo theo năng lực, phẩm chất của mỗi người. (Ảnh: TT)

Trao đổi với Báo GD&TĐ, bà Trần Thị Thu Huyền, Phó Hiệu trưởng nhà trường, cho rằng qua hoạt động trải nghiệm cũng giúp giáo viên quan sát cách từng em tiếp cận nhiệm vụ. Có em thuận lợi khi chọn vật liệu nhưng cần hỗ trợ lúc dán; có em cần được gợi hỏi để xác định hình dáng muốn thể hiện.

Sự hướng dẫn vì thế cần phù hợp với khả năng của mỗi học sinh. Một câu hỏi có thể giúp em tìm ra chi tiết muốn bổ sung; một lần làm mẫu có thể giúp em hiểu cách sử dụng dụng cụ. Phần việc còn lại được dành cho trẻ thực hiện.

“Các mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực cũng được gắn với những việc vừa sức: tự lựa chọn vật liệu để rèn tính chủ động; chia sẻ đồ dùng, trao đổi ý tưởng để thực hành hợp tác; điều chỉnh cách xếp lá để tập giải quyết vấn đề; kiên trì hoàn thiện sản phẩm và thu dọn sau giờ học để hình thành trách nhiệm”, cô Vy chia sẻ.

Khi sản phẩm hoàn thành, học sinh tiếp tục trưng bày và chia sẻ. Những câu hỏi “Chú sâu tên gì?”, “Em đã dùng lá nào?”, “Em thích chi tiết nào nhất?” tạo điểm tựa để các em giới thiệu bằng một đến hai câu.

Theo bà Huyền, việc nói về những điều đã học, trực tiếp thực hiện tạo cơ hội rèn sự tự tin và cách diễn đạt mạch lạc. Với sản phẩm của mình, học sinh có câu chuyện cụ thể để kể, giải thích và trao đổi cùng bạn.

Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh chủ động thực hiện nhiệm vụ học tập. (Ảnh: TT)

Đưa kiến thức vào việc làm hằng ngày

Từ bài Mĩ thuật lớp 1, cách tiếp cận qua nhiệm vụ gần gũi còn được thể hiện trong giờ dạy trải nghiệm ở lớp 2A1 của cô giáo Trần Thị Ngọc. Trong nhiều môn học, học sinh được bố trí thời gian trao đổi, thực hành, liên hệ và tự nhận xét.

Ở nội dung Tự nhiên và Xã hội, dự án “Làm xanh trường lớp” yêu cầu các nhóm báo cáo số cây, tên cây, công việc chăm sóc và kết quả. Phần báo cáo được gắn với tranh, ảnh hoặc sản phẩm thực tế, giúp học sinh có căn cứ khi trình bày.

Giáo viên còn hướng dẫn duy trì phân công chăm sóc, quan sát độ ẩm đất trước khi tưới, sử dụng lượng nước vừa đủ và báo giáo viên khi cây có dấu hiệu bất thường. Qua đó, tình yêu thiên nhiên được chuyển thành những phần việc có thể thực hiện, theo dõi và duy trì.

Thành quả của 1 hoạt động trải nghiệm tại Trường Tiểu học Quốc Tế. (Ảnh: TT)

Tương tự, ở tiết học: Nói và nghe “Niềm vui của em”, nhiệm vụ học tập dành cơ hội để trẻ chia sẻ điều làm mình vui, chưa vui, lắng nghe và hỏi thêm để hiểu bạn. Với bài “Nhím nâu kết bạn”, các em được giao đóng vai, tập nói lời xin lỗi, lời kết bạn.

Những nội dung này tạo môi trường thực hành giao tiếp trong tình huống vừa sức. Học sinh tập diễn đạt cảm xúc, đồng thời chú ý đến suy nghĩ và cảm nhận của người khác.

Điểm chung trong cách thiết kế là mỗi nhiệm vụ đều có phần việc của học sinh. Giáo viên hướng dẫn và hỗ trợ, còn trẻ cần quan sát, thực hiện, phối hợp hoặc giải thích bằng lời của mình.

Việc đánh giá cũng dựa theo sát quá trình thực hiện. Theo cô Ngọc, trong bài làm tranh lá cây, minh chứng được xác định gồm quá trình thực hành, sản phẩm, phần chia sẻ và ý thức sử dụng vật liệu an toàn. Giáo viên nhờ đó có thêm căn cứ nhận biết điểm thuận lợi, khó khăn của từng em.

Các em học sinh với thành quả sau 1 giờ trải nghiệm thực tế. (Ảnh: TT)

Những lời chia sẻ sau giờ trải nghiệm của học sinh là không chỉ thể hiện niềm vui tự làm ra sản phẩm, mà các em còn mong muốn được tiếp tục trải nghiệm để giải đáp những thắc mắc của bản thân.

Cũng theo lời cô Ngọc, chính phản hồi của học sinh, giáo viên tìm ra cách điều chỉnh nhiệm vụ, dành thêm thời gian cho học sinh thử, trao đổi và trình bày. Khi có điều tự tay làm, có ý tưởng được lắng nghe và có câu chuyện muốn kể, học sinh có thêm lý do để chờ đợi giờ học.

Thanh Trà

Thành Tâm