Gỡ 'rào cản' để doanh nghiệp yên tâm đầu tư, phát triển - Báo Bảo Vệ Pháp Luật
Nghị quyết 68/NQ-TW được ban hành, chính là động lực mạnh mẽ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển. Cùng với đó, loạt chính sách nhằm hỗ trợ, tạo thuận lợi doanh nghiệp đã được triển khai trong thời gian qua đã cho thấy quyết tâm của Đảng, Nhà nước và Chính phủ trong phát triển kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, vẫn có không ít doanh nghiệp gặp khó khăn khi vướng phải những 'rào cản'.

Chính sách mở đường, doanh nghiệp kỳ vọng
Không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân về tín dụng, thủ tục hành chính, ưu đãi thuế, rất nhiều nút thắt trong chính sách cũng đã được tháo gỡ trong trong thời gian gần đây. Điển hình như dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (sửa đổi) đang được Bộ Tài chính lấy ý kiến, trong đó sửa đổi các tiêu chí phân loại và cơ chế hỗ trợ nhằm tạo hành lang pháp lý linh hoạt hơn cho khối tư nhân, ưu tiên tiếp cận tín dụng, bảo lãnh tín dụng, tài trợ, vốn mồi.
Đặc biệt là Nghị quyết 29/2026/QH16 của Quốc hội ban hành ngày 24/4/2026 quy định các cơ chế và chính sách đặc thù nhằm giải quyết các vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân phát sinh trước ngày Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực, cụ thể là trước ngày 1/8/2024. Mục tiêu của Nghị quyết là tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và không có yếu tố tham nhũng.
Hay như mới đây, trước những vướng mắc trong thực hiện các dự án BT, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 16/2026/NQ-CP (Nghị quyết 16) quy định về cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với dự án đầu tư theo hình thức Xây dựng - Chuyển giao. Nghị quyết 16 được ban hành, hàng loạt dự án BT chuyển tiếp gặp khó khăn, vướng mắc do lỗi của cơ quan quản lý nhà nước sẽ có cơ chế tháo gỡ, sớm đưa công trình, nguồn lực đất đai vào khai thác, tránh lãng phí...
Với định hướng là Nghị quyết 68-NQ/TW, nhìn tổng thể, các chính sách, nghị quyết được ban hành thời gian gần đây cho thấy quyết tâm mạnh mẽ của Quốc hội, Chính phủ trong việc tháo gỡ những “điểm nghẽn” đã tồn tại nhiều năm đối với cộng đồng doanh nghiệp. Không chỉ dừng ở hỗ trợ về tín dụng, thuế hay thủ tục hành chính, nhiều cơ chế mới còn hướng tới xử lý các tồn tại pháp lý kéo dài, khơi thông nguồn lực đất đai, tài sản công và các dự án đầu tư bị đình trệ.
Theo đánh giá của nhiều chuyên gia kinh tế, việc chuyển từ tư duy “quản lý” sang “đồng hành, kiến tạo” đang tạo ra tín hiệu tích cực cho môi trường đầu tư, kinh doanh. Các chính sách mới được kỳ vọng sẽ giúp doanh nghiệp giảm áp lực chi phí, tăng khả năng tiếp cận nguồn lực và củng cố niềm tin để mạnh dạn mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Tuy nhiên, qua thực tế phản ánh của doanh nghiệp, vẫn có những nơi, doanh nghiệp đang vướng phải những khó khăn do cách giải quyết của chính quyền địa phương, thậm chí có doanh nghiệp bất đắc dĩ trở thành “chủ nợ” khi dự án đã hoàn thành đưa vào sử dụng từ lâu nhưng tiền vẫn chưa được thanh toán dứt điểm.

Câu chuyện “mắc kẹt” bởi quy trình thanh toán
Từ câu chuyện thực tế của doanh nghiệp mình, ông Đào Hải Linh - Giám đốc Công ty TNHH Đầu tư BT Phú Yên - Gia Lai cho biết, doanh nghiệp thực hiện Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao số 01/2015/HĐ - BT được ký kết từ ngày 19/6/2015 triển khai dự án nâng cấp tuyến đường bộ nối hai tỉnh Phú Yên (cũ) và Gia Lai, đoạn qua địa phận Phú Yên (cũ).
Tổng giá trị khối lượng do nhà đầu tư thực hiện tính đến ngày 20/8/2020 đã được Kiểm toán nhà nước xác nhận, tổng hợp qua hai đợt kiểm toán (đợt 1 ngày 11/12/2019 và đợt 2 ngày 25/8/2020) là gần 1.500 tỉ đồng. Công trình đã hoàn thành, được nghiệm thu toàn diện và chính thức bàn giao, đưa vào khai thác sử dụng từ ngày 11/4/2020.
Tuy nhiên, sau rất nhiều lần đề nghị thanh toán, quyết toán, UBND tỉnh Phú Yên (cũ) vẫn không thực hiện thanh toán theo Hợp đồng BT và các cam kết giữa 2 bên. Đồng thời, UBND tỉnh đã thực hiện một loạt các biện pháp rà soát, yêu cầu nhà đầu tư giải trình làm rõ về các nội dung mà phía UBND tỉnh Phú Yên cho là vướng mắc nhưng thực tế đã quy định rất cụ thể trong hợp đồng, đề nghị các bộ, ngành hướng dẫn rất nhiều lần… dẫn đến trì hoãn thực hiện các nghĩa vụ.
Thêm vào đó, UBND tỉnh còn cho rằng, để có cơ sở thẩm tra, phê duyệt quyết toán, các bên phải sửa đổi, điều chỉnh Hợp đồng BT và các Phụ lục hợp đồng theo đúng quy định pháp luật hiện hành tương ứng với từng thời kỳ. Tuy nhiên, do nhà đầu tư và doanh nghiệp dự án không đồng ý ký phụ lục điều chỉnh (trước đó đã ký 2 phụ lục 01 và 02) vì muốn giữ nguyên các điều khoản gốc đã ký kết, khiến việc thanh toán không thể thực hiện được.
Cũng theo ông Linh, không chỉ vi phạm các thời hạn thanh toán cho doanh nghiệp, chính quyền địa phương còn không nghiêm túc thực hiện các kiến nghị, kết luận của Kiểm toán nhà nước, Thanh tra Chính phủ.
Cụ thể, tại Báo cáo kiểm toán theo văn bản số 608/TB-KTNN ngày 11/12/2019, Kiểm toán nhà nước đã kiến nghị đến UBND tỉnh Phú Yên “Khẩn trương ký kết phụ lục hợp đồng theo đúng quy định pháp luật, phù hợp với phân kỳ đầu tư của dự án để làm cơ sở thanh toán, quyết toán gia đoạn 1… Xác định rõ nguồn vốn hợp pháp khác để có cơ sở thanh toán, quyết toán (giai đoạn 1) của dự án vào 2019- 2020 theo đúng quy định của hợp đồng, tránh để phát sinh lãi vay và lãi trả chậm”…
Ngoài ra, tại phụ lục báo cáo kiểm toán kèm theo văn bản số 333/KTNN-TH ngày 16/10/2020 của Kiểm toán nhà nước đã chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong công tác thanh toán của UBND tỉnh Phú Yên (cũ).

Hệ lụy từ những bất cập: Doanh nghiệp gặp khó, ngân sách thêm áp lực
Ông Đào Hải Linh cho biết thêm, việc chậm trễ thanh toán của chính quyền địa phương trong khi dự án đã hoàn thành từ 6 năm đã khiến doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn khi phải “gồng mình” gánh khoản lãi vay từ ngân hàng, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh khác của công ty bị đình trệ, đẩy người lao động của doanh nghiệp vào nguy cơ mất việc làm.
Không những thế, khi chậm thanh toán, nguy cơ làm tăng gánh nặng ngân sách nhà nước là không thể tránh khỏi. Bởi tính đến thời điểm hiện nay, UBND tỉnh Phú Yên (cũ) mới thanh toán cho nhà đầu tư 85% giá trị công trình, còn lại 15% (tương đương số tiền 248 tỉ đồng) chưa thanh toán. Theo tính toán của doanh nghiệp, tổng số tiền địa phương phải thanh toán là 248 tỉ đồng chi phí còn lại của dự án; khoản lãi và lãi quá hạn tại giai đoạn 1 là hơn 80 tỉ đồng; gần 152 tỉ đồng lãi chậm trả sau thời gian 18 tháng kể từ ngày bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng.
Cùng với đó, do UBND tỉnh Phú Yên (cũ) đơn phương chấm dứt hợp đồng giai đoạn 2 của dự án, phải chịu phạt vi phạm hợp đồng theo quy định là hơn 374 tỉ đồng. Điều đáng nói là hành vi này làm tổn hại đến môi trường đầu tư của địa phương cũng như lòng tin của nhà đầu tư.
Không còn cách nào khác, doanh nghiệp đã làm đơn khởi kiện ra tòa. Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm ngày 20/5/2026 vùa qua, TAND tỉnh Đắk Lắk đã tạm đình chỉ vụ án khi đại diện theo ủy quyền của bị đơn là Sở Xây dựng tỉnh Đắk Lắk có đơn đề nghị tạm đình chỉ vụ án để các đương sự hòa giải. Viện dẫn để tạm đình chỉ vụ án của Sở Xây dựng tỉnh Đắk Lắk là theo quy định tại Nghị quyết 16 của Chính phủ.
Dưới góc nhìn luật sư, ông Nguyễn Thanh Tùng, Hãng luật VJLAW Việt Nam đánh giá, Nghị quyết 16 là một chính sách vô cùng nhân văn của Chính phủ nhằm tháo gỡ vướng mắc cho các dự án chuyển tiếp còn dở dang trên cả nước để sớm đưa nguồn lực vào vận hành, tránh lãng phí. Trong đó, tạ Điều 5 của Nghị quyết này quy định rất rõ điều kiện áp dụng là ký phụ lục sửa đổi hợp đồng “để tiếp tục thực hiện dự án”. Quy định này chỉ hướng tới những công trình đang thi công dở dang hoặc bế tắc về thủ tục khiến dòng vốn bị tắc nghẽn.
Đối chiếu với thực tế dự án nâng cấp tuyến đường bộ nối Phú Yên và Gia Lai, công trình này đã được nghiệm thu hoàn thành toàn bộ và đưa vào sử dụng từ năm 2020. Do đó, việc Sở Xây dựng tỉnh Đắk Lắk căn cứ vào điều khoản yêu cầu “sửa đổi hợp đồng để tiếp tục thực hiện dự án” đối với một công trình đã bàn giao xong hơn 6 năm trước là không phù hợp...
Vụ việc Công ty TNHH Đầu tư BT Phú Yên - Gia Lai khởi kiện UBND tỉnh Đắk Lắk hay những vướng mắc của các doanh nghiệp khác phát sinh trong thời gian qua sẽ được tháo gỡ, giải quyết.
Song từ thực tế này cho thấy, chủ trương hỗ trợ doanh nghiệp chỉ có thể phát huy hiệu quả khi quá trình thực thi được triển khai đồng bộ, nhất quán từ trung ương đến địa phương. Đặc biệt, trong bối cảnh kinh tế tư nhân đang được xác định là một động lực quan trọng của nền kinh tế, việc tháo gỡ các “điểm nghẽn” về thủ tục, thanh toán và cơ chế thực hiện dự án không chỉ giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn mà còn góp phần củng cố niềm tin của nhà đầu tư vào môi trường kinh doanh.