Giữ vị thế vùng nông sản tỷ USD - Bài 1: Sản lượng lớn, áp lực chuỗi giá trị - Báo Tin Tức TTXVN
Nông nghiệp Tây Nguyên tiếp tục tăng sản lượng nhưng vẫn chịu sức ép từ biến động giá, chi phí đầu vào và những đòi hỏi ngày càng cao của thị trường nhập khẩu. Bước vào niên vụ 2026 - 2027, bài toán của vùng nông sản tỷ USD là đưa khoa học vào vườn cây, minh bạch dữ liệu và củng cố chuỗi liên kết, để tăng trưởng mang lại thu nhập bền vững cho người trồng.

Bài 1: Sản lượng lớn và áp lực chuỗi giá trị
Niên vụ 2026 ghi nhận mức tăng trưởng về sản lượng của các mặt hàng nông sản trụ cột tại Tây Nguyên như cà phê, sầu riêng và hồ tiêu. Cạnh niềm vui được mùa, nông dân và các hợp tác xã trên dải đất bazan đang chịu áp lực từ giá bán biến động, chi phí đầu vào tăng cao và những nút thắt trong quản lý chuyên ngành ở cơ sở sau sắp xếp bộ máy chính quyền địa phương.
Vùng nguyên liệu lớn trước cơ hội lớn
Giữa tháng 10, tại Đắk Lắk, những vấn đề ấy được đặt lên bàn nghị sự khi Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các địa phương đánh giá sản xuất trồng trọt năm 2026 vùng Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ. Đằng sau những con số tăng trưởng là câu hỏi chung: làm thế nào để nguồn hàng ngày càng lớn mang lại giá trị tương xứng?
Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Dương Đức Huy đánh giá, dù chịu nhiều biến động của thời tiết và thị trường, sản xuất trồng trọt toàn vùng vẫn tăng trưởng ở cả bốn nhóm cây trồng chính. Bên cạnh lúa và cây ngắn ngày, các ngành hàng cà phê, hồ tiêu, cây ăn quả tiếp tục khẳng định vị trí trong sản xuất hàng hóa và xuất khẩu. Riêng cà phê có diện tích 690.300 ha, sản lượng hơn 2,2 triệu tấn, tăng 100.700 tấn so với năm trước. Hồ tiêu đạt 205.500 tấn trên diện tích 76.200 ha, tăng 9.900 tấn. Sầu riêng đạt 955.000 tấn, tăng 127.600 tấn, với diện tích 109.500 ha. Khối lượng ấy tạo nguồn hàng lớn, đồng thời đòi hỏi năng lực thu mua, bảo quản, đóng gói và chế biến phải theo kịp.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp lưu ý, trong khi nhiều nguồn lực đang tập trung cho xuất khẩu sầu riêng, cần nhìn đầy đủ vai trò cốt lõi của cà phê. Ông đề cập triển vọng kim ngạch xuất khẩu cà phê cả nước gần 10 tỷ USD, so với khoảng 4 tỷ USD của sầu riêng. Với Tây Nguyên, nhận định ấy đặt ra yêu cầu giữ vững vùng nguyên liệu chủ lực, nâng chất lượng và giá trị của từng ngành hàng.
Các số liệu sản xuất trên bao quát cả Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ trong không gian các tỉnh sau hợp nhất. Vùng nguyên liệu cao nguyên có thêm điều kiện kết nối với cơ sở chế biến, hạ tầng vận chuyển và cửa ngõ ra biển. Nhưng kết nối địa lý chỉ phát huy hiệu quả khi những khâu từ vườn cây đến thị trường được tổ chức đồng bộ.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk Nguyễn Thiên Văn cho biết, dù đối diện nhiều bất lợi về thời tiết và thị trường, nông nghiệp tiếp tục giữ vai trò bệ đỡ của kinh tế địa phương. Việc chuyển đổi cơ cấu giống, áp dụng kỹ thuật và nỗ lực duy trì sản xuất của người dân đã góp phần bảo đảm nguồn hàng cho các ngành hàng xuất khẩu.
Theo Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk Đỗ Hữu Huy, ngành hàng sầu riêng của tỉnh đã mang lại khoảng 900 triệu USD, dự kiến cả năm vượt 1 tỷ USD. Giá trị ấy cho thấy sức đóng góp của sầu riêng, đồng thời đặt ra trách nhiệm lớn hơn trong bảo đảm chất lượng và giữ thị trường.
Ở Lâm Đồng, kim ngạch xuất khẩu nông, thủy sản 9 tháng năm 2026 đạt gần 1,3 tỷ USD; riêng cà phê nhân đóng góp 622 triệu USD. Cùng với hạt điều, hồ tiêu, rau và trái cây, các ngành hàng này tạo nền tảng hàng hóa đa dạng cho địa phương.
Tuy nhiên, sản lượng tăng chưa bảo đảm thu nhập tăng tương ứng. Người trồng đã đầu tư từ nhiều tháng, thậm chí nhiều năm trước khi có sản phẩm bán ra. Đến kỳ thu hoạch, một đợt giảm giá hay một ách tắc tiêu thụ đều có thể tác động trực tiếp đến khoản thu và khả năng tái đầu tư. Nguồn hàng càng lớn, sức ép tổ chức đầu ra càng rõ.
Giữ giá trị từ thị trường đến từng thửa đất

Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, 9 tháng đầu năm 2026, lượng cà phê xuất khẩu tăng 15,4%, nhưng kim ngạch giảm 7,3% so với cùng kỳ năm trước. Bán nhiều hơn nhưng thu về ít hơn cho thấy giới hạn của việc dựa vào tăng sản lượng. Ở vùng nguyên liệu, người trồng còn phải cân đối chi phí phân bón, chăm sóc và thu hoạch. Một mùa có sản lượng tốt vẫn có thể để lại nỗi lo về phần thu nhập thực nhận.
Sầu riêng lại chịu sức ép từ yêu cầu chất lượng và mức độ tập trung thị trường. Trung Quốc chiếm khoảng 63% giá trị xuất khẩu rau quả của Việt Nam. Với sầu riêng tươi, việc đáp ứng kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm và kiểm soát dư lượng phải được chuẩn bị ngay trong quá trình canh tác. Khi trái chín tập trung, thời gian chờ kiểm tra, thu mua và đóng gói đều trở thành chi phí. Nếu đến cơ sở đóng gói mới phát hiện vấn đề chất lượng, cả người trồng lẫn doanh nghiệp đều khó xoay xở. Vì vậy, năng lực xuất khẩu phải được hình thành từ vườn cây, thay vì chỉ trông vào khâu kiểm tra cuối cùng.
Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp chỉ ra những hạn chế kéo dài, như: sản xuất nhỏ lẻ, liên kết giữa doanh nghiệp và người dân chưa tốt, logistics thiếu ổn định, chuyển đổi cây trồng quá nhanh và kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật còn bất cập. Ông yêu cầu phải có chuyển biến thực chất, khắc phục những điểm yếu lặp lại qua nhiều năm.
Với cà phê và cao su vào thị trường Liên minh châu Âu, yêu cầu minh bạch còn đi đến từng thửa đất. Quy định chống phá rừng của EU (EUDR) đòi hỏi chứng minh nơi sản xuất và nguồn gốc sản phẩm. Muốn đáp ứng, dữ liệu vùng trồng phải gắn được với ranh giới đất, lịch sử sử dụng và nguồn hàng doanh nghiệp thu mua.
Đến ngày 30/9/2026, các địa phương trong vùng đã rà soát 332.607 ha cà phê để xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ EUDR, đạt 48,2% diện tích được tổng hợp. Lâm Đồng đã rà soát 161.378 ha, Đắk Lắk 86.339 ha, Gia Lai 83.881 ha và Quảng Ngãi 1.009 ha. Kết quả này mới phản ánh tiến độ rà soát dữ liệu, chưa đồng nghĩa toàn bộ diện tích đã đáp ứng đầy đủ yêu cầu.
Khó khăn nằm ở cả những thông tin tưởng như đã rõ từ lâu: đất đang trồng cây gì, ranh giới ở đâu, hồ sơ có khớp với thực địa hay không. Người dân có thể canh tác ổn định nhiều năm, nhưng khi phải chứng minh nguồn gốc sản phẩm, những sai khác chưa được cập nhật lại trở thành trở ngại.
Qua rà soát phục vụ EUDR, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật ghi nhận khoảng 1.277,8 ha cà phê có rủi ro, trong đó Gia Lai có 1.002 ha, Quảng Ngãi có 175,8 ha. Những diện tích này cần tiếp tục được xác minh hiện trạng và lịch sử sử dụng đất. Tại Lâm Đồng, việc đối chiếu bản đồ với thực địa cũng bộc lộ những sai khác tồn đọng.
Theo Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Phan Nguyễn Hoàng Tân, sau kiểm tra, cập nhật, diện tích rừng năm 2025 được xác định giảm hơn 19.275 ha so với năm 2024, chủ yếu tại địa bàn Lâm Đồng trước hợp nhất, tương ứng tỷ lệ che phủ giảm 0,81 điểm phần trăm. Nguyên nhân chính là nhiều diện tích vẫn được ghi nhận là rừng trên bản đồ, trong khi thực tế người dân đã canh tác nông nghiệp từ những năm trước nhưng chưa được cập nhật kịp thời.
Hiện, Lâm Đồng đã làm sạch, chuẩn hóa dữ liệu của 765.500 thửa đất, đạt 51,32% khối lượng được giao. Phần việc còn lại liên quan đến bản đồ, hồ sơ địa chính, đối soát thông tin dân cư và phối hợp xét duyệt ở địa phương.
Tây Nguyên đã tạo dựng những vùng hàng hóa lớn, tham gia sâu vào các ngành hàng tỷ đô. Bước tiến tiếp theo phải được thể hiện ở khả năng bán hàng ổn định, chứng minh nguồn gốc và giữ chất lượng đồng đều. Khi dữ liệu rõ ràng, liên kết đủ chắc và đầu ra được chuẩn bị từ đầu vụ, thành quả tăng trưởng mới có cơ sở trở thành thu nhập bền vững cho người trồng.