Đột phá phát triển kinh tế tập thể - Bnews
Tại nhiều địa phương, hợp tác xã đã trở thành hạt nhân liên kết sản xuất, giúp người dân thay đổi phương thức canh tác và giá trị nông sản.

Một “nghịch lý” đầy tự hào đang hiện hữu trên những cánh đồng Đắk Lắk: trong khi biến đổi khí hậu khiến năng suất lúa nhiều nơi sụt giảm, thì tại Hợp tác xã 714, giống lúa ST25 lại đạt tới 130 tạ/ha – mức năng suất thuộc nhóm cao nhất cả nước. Từ những cánh đồng lúa chất lượng cao ở Ea Pal đến các vùng sầu riêng xuất khẩu tại Krông Pắc, kinh tế tập thể đang cho thấy một vai trò mới: không chỉ liên kết nông dân sản xuất, mà còn tổ chức lại chuỗi giá trị, ứng dụng công nghệ và nâng cao sức cạnh tranh cho những ngành hàng nông sản chủ lực của Đắk Lắk.
Chuyển đổi nhờ những nhà “quản trị nông nghiệp hiện đại”
Giữa cái gắt mùa thu hoạch Đông Xuân 2025 - 2026, những cánh đồng lúa tại xã Ea Pal (tỉnh Đắk Lắk), ông Châu Văn Cảm, một nông dân kỳ cựu của Hợp tác xã 714, vừa lau mồ hôi, nói: “Mấy năm trước đây, dân chúng tôi làm lúa tùm lum giống. Nhưng từ hồi theo hợp tác xã làm lúa ST, dân làm thuận lợi hẳn, năng suất cao mà thương lái cân tại ruộng, không phải lo đầu ra”.
Con số 130 tạ/ha mà hợp tác xã 714 đạt được không phải ngẫu nhiên. Xuất thân từ Trung đoàn 714 với 387ha lúa nước, đơn vị này đã có một bước đi đầy táo bạo: đưa giống lúa ST25 của Giáo sư Hồ Quang Cua về "thử lửa" trên đất cao nguyên. Ông Nguyễn Đình Thanh, một thành viên khác của hợp tác xã, nhớ lại: “Đầu tiên hợp tác xã đưa giống về cấp cho dân, hướng dẫn kỹ thuật rồi bao tiêu toàn bộ. Thấy hiệu quả thật, bà con cứ thế lấy giống của hợp tác xã mà làm thôi”.
Ông Vũ Xuân Thu, Chủ tịch HĐQT, Giám đốc Hợp tác xã 714, bộc bạch: "Trước kia chúng tôi trồng đủ loại từ Ô môn, 4900 đến Đài thơm 8... nhưng khi thấy ST24, ST25 có ưu điểm vượt trội về năng suất kỷ lục; kháng bệnh cực tốt; và ba là giá cả cao hơn tới 12, 13 giá so với lúa thường. Khi triển khai ban đầu cũng rất khó khăn, nhưng hợp tác xã quyết làm. Đạt được năng suất xã viên lấy đó làm đòn bẩy, làm thước đo nên họ tự tìm đến xin trồng”.
Ít ai biết rằng, hơn chục năm trước “Nông trường 714” đang được tính tới khả năng giải thể. Nhưng sau khi có cây lúa ST, mọi thứ đã thay đổi. Ông Thu kể: “3 lần chúng tôi xuống miền Nam gặp và mời Giaso sư Hồ Quang Cua về Ea Pal. Giáo sư Hồ Quang Cua lên trực tiếp kiểm tra các thông số kỹ thuật của vùng đất trồng lúa này. Từ đó, một sự đổi mới mạnh mẽ đã ra đời. Cho tới nay, nông dân trồng lúa của hợp tác xã 417 không lo bất kỳ điều gì, từ giống, phân bón, phòng trừ dịch hại cho đến thu hoạch. Mọi thứ đều có hợp tác xã lo liệu, các công ty, thương lái từ miền Nam lên bao tiêu toàn bộ lúa ở đây”.
Sự vững chân của giống lúa "ngon nhất thế giới" trên đất Đắk Lắk đã tạo nên một thực tế đầy kiêu hãnh: lúa Tây Nguyên không chỉ đạt năng suất cao vượt trội mà chất lượng gạo cũng cao hơn vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Không chỉ dừng lại ở đó, gần đây mô hình luân canh 2 lúa 1 khoai lang của Hợp tác xã 714 mang lại cho người dân giá trị đến 800 triệu đồng/ha/năm. Một còn số mà trước đây không ai dám nghĩ tới.
Nếu hợp tác xã 714 là biểu tượng của ngành lúa gạo, thì Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp sạch (xã Krông Pắc) lại là "bộ não" của vùng sầu riêng xuất khẩu. Tại đây, một mô hình quản trị kỳ lạ đã xuất hiện: Người đứng đầu hợp tác xã - ông Mai Đình Thọ, cựu Phó Bí thư thường trực Huyện ủy Krông Pắc (cũ) không có tài sản gì trong hợp tác xã.
Đưa chúng tôi đi khắp các vườn sầu riêng ở mọi ngõ ngách, nhưng khi tôi hỏi vườn của anh đâu? Thì ông Thọ nói: “Không có cây nào hết!”. Ông Thọ cũng không có tài sản góp vốn vào tập thể. Ông đơn giản chỉ là nhà quản trị của hợp tác xã và không có nhu cầu “chuyển hóa lợi ích tập thể sang lợi ích cá thể” – như nhiều tổ chức kinh tế tập thể khác.
Chính sự "vô sản" này lại tạo nên niềm tin tuyệt đối cho bà con nông dân. Ông không đứng trong hợp tác xã để bán sầu riêng của mình mà để tổ chức, kết nối và xây dựng quy chuẩn. Tại hợp tác xã của ông Thọ, chi phí tham gia chỉ là 500 nghìn đồng, nhưng điều kiện bắt buộc là phải tuân thủ triệt để quy chuẩn chung nghiêm ngặt nhất. Trong số xã viên hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp sạch có cả tổ chức Công giáo và Phật giáo.
Từ 13 hộ nông dân tham gia thành lập hợp tác xã, hiện đã có gần 200 hộ dân tự nguyện làm xã viên tham gia sản xuất trên diện tích từ 150-196 ha; trong đó, đã có 10 mã vùng trồng được cấp với gần 100ha đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, 146 ha đạt chứng nhận VietGAP. Mỗi năm, hợp tác xã thu hoạch gần 4.000 tấn sầu riêng, tạo doanh thu lên tới hàng trăm tỷ đồng.
Điều ông Thọ xây dựng không đơn thuần là một hợp tác xã trồng sầu riêng. Ông đang xây dựng một hệ thống tổ chức sản xuất. Từng vườn sầu riêng được quản lý bằng dữ liệu. Những “bộ não điện tử” được gắn xuống đất để đo độ ẩm, đo độ pH của đất và tự động “mở van” khi đất có “yêu cầu”.
“Một người tiêu dùng ở bất kỳ đâu trên thế giới đều có thể quét mã quả sầu riêng sẽ biết toàn nguồn gốc; biết được quả sầu riêng đó là quả thứ mấy đến từ cây nào trong vườn của ai ở Krông Pắc, quá trình canh tác ra sao!”, ông Thọ nói.
Ông Thọ khẳng định: “Nông dân mình không yếu sức làm, mà yếu cách tổ chức. Muốn đi xa, phải đi cùng nhau và phải làm việc dựa trên dữ liệu”.
Mô hình hợp tác xã là "mắt xích" lõi của kinh tế tập thể

Từ câu chuyện của hợp tác xã 714 và hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp sạch, có thể nhìn rõ hơn bức tranh phát triển kinh tế tập thể của Đắk Lắk trong những năm gần đây. Giai đoạn 2020 - 2025 là giai đoạn phát triển mạnh nhất về số lượng của khu vực kinh tế tập thể. Toàn tỉnh thành lập mới 468 hợp tác xã, đạt hơn 170% chỉ tiêu đề ra, tăng khoảng 40% so với nhiệm kỳ trước. Hiện tại, Đắk Lắk có 1.201 hợp tác xã đang hoạt động.
Số lượng hợp tác xã tăng mạnh cho thấy kinh tế hợp tác không những không thu hẹp vai trò mà đang trở thành nhu cầu tất yếu của nền nông nghiệp hiện đại. Mô hình hợp tác xã đang từng bước chuyển từ vai trò hỗ trợ sang tổ chức sản xuất, tập hợp nông dân, tạo vùng nguyên liệu quy mô lớn, đồng nhất về quy trình và chất lượng sản phẩm, qua đó, nâng cao giá trị và sức cạnh tranh cho các ngành hàng nông sản chủ lực của Đắk Lắk.
Đây chính là sự cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết 20-NQ/TW về phát triển kinh tế tập thể và Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Theo ông Huỳnh Bài, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã tỉnh Đắk Lắk, hợp tác xã kiểu mới hiện nay đóng vai trò là "mắt xích" kết nối, tập hợp nông dân sản xuất theo quy trình thống nhất, tạo ra những vùng nguyên liệu lớn, đồng nhất về chất lượng và gia tăng giá trị cho cả tập thể lẫn từng thành viên.
Kinh tế tập thể tại Đắk Lắk đã có được sự chuyển đổi mạnh mẽ và hiệu quả bởi nhiều nguyên nhân. Tỉnh ủy Đắk Lắk đã ban hành chương trình phát triển kinh tế tập thể; Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành nghị quyết cùng nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ. Bên cạnh đó là sự phối hợp ngày càng chặt chẽ giữa Liên minh Hợp tác xã tỉnh với các sở, ngành và địa phương trong quá trình triển khai.
Hầu hết các hợp tác xã đã từng bước chuyển đổi mô hình tổ chức và hoạt động theo Luật Hợp tác xã năm 2023, đổi mới phương thức quản trị, tăng cường liên kết với thành viên và từng bước thích ứng với yêu cầu của nền kinh tế thị trường. Tại nhiều địa phương, hợp tác xã đã trở thành hạt nhân liên kết sản xuất, giúp người dân thay đổi phương thức canh tác và giá trị nông sản.
Giai đoạn 2025-2030 được xác định là thời kỳ tăng tốc chuyển đổi số và nâng cao sức cạnh tranh của kinh tế tập thể. Theo ông Huỳnh Bài, thực hiện tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW và Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị, Liên minh Hợp tác xã tỉnh sẽ tập trung hỗ trợ các hợp tác xã ứng dụng công nghệ số trong toàn bộ chuỗi sản xuất, từ quản lý vùng nguyên liệu, tổ chức sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm.
Một mục tiêu quan trọng khác là thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị giữa hợp tác xã với doanh nghiệp hình thành những vùng sản xuất quy mô lớn, thống nhất cả về quy trình sản xuất, thương mại và lợi ích. Khi người dân cùng sản xuất theo một tiêu chuẩn, cùng xây dựng thương hiệu và cùng tham gia sàn thương mại điện tử… sẽ tạo ra giá trị lớn hơn rất nhiều so với sản xuất riêng lẻ.
"Điều quan trọng nhất hiện nay là nhận thức của xã hội về kinh tế tập thể đã thay đổi rất nhiều. Kinh tế tập thể không còn được nhìn nhận như một khu vực cần hỗ trợ đơn thuần, mà đang trở thành thành phần kinh tế quan trọng có khả năng tạo ra giá trị lớn bằng thước đo về mức độ đóng góp vào tăng trưởng xã hội, tạo ra được bao nhiêu giá trị cho người dân, cho nền kinh tế tỉnh nhà và cả quốc gia", ông Huỳnh Bài nhấn mạnh.