Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 3: Rút ngắn đường đi, kéo dài chuỗi giá trị hàng hóa - Báo Tin Tức TTXVN

Hạ tầng có thể rút ngắn một chuyến xe, nhưng chưa chắc nâng giá trị một tấn nông sản. Giá trị chỉ tăng khi vùng nguyên liệu được số hóa, sản phẩm được bảo quản, chế biến, kiểm định và bán bằng thương hiệu của mình. Từ cà phê, sầu riêng ở Đắk Lắk, rau hoa và trái cây Lâm Đồng đến dữ liệu di sản Huế, chuỗi giá trị mới đang đòi hỏi hạ tầng rộng hơn đường sá: hạ tầng số, tiêu chuẩn và năng lực sáng tạo.

Đánh thức hành lang kinh tế miền Trung - Tây Nguyên - Bài 3: Rút ngắn đường đi, kéo dài chuỗi giá trị hàng hóa - Báo Tin Tức TTXVN

Chia sẻ

Chia sẻ qua Facebook Chia sẻ qua Twitter Chia sẻ qua Email

Người Ê Đê thu hoạch cà phê từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau. Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN

Chuyển vùng nguyên liệu thành vùng dữ liệu

Đắk Lắk và Lâm Đồng là hai địa bàn sản xuất nông nghiệp lớn của khu vực cao nguyên miền Trung. Mỗi mùa vụ, cà phê, hồ tiêu, sầu riêng, rau, hoa và lâm sản phải qua nhiều khâu trước khi đến cảng hoặc thị trường tiêu thụ. Cao tốc rút ngắn thời gian vận chuyển nhưng hàng hóa vẫn có thể mất giá nếu thiếu kho lạnh, đóng gói, kiểm nghiệm, truy xuất nguồn gốc và hợp đồng ổn định. Bài toán cốt lõi là biến hành lang giao thông thành hành lang sản xuất - dịch vụ.

Ông Lê Đức Huy, Chủ tịch HĐTV Simexco DakLak cho rằng: Nền tảng dữ liệu đặc biệt quan trọng với nông nghiệp. Đắk Lắk cần ưu tiên bản đồ số, hệ thống truy vết canh tác và truy xuất nguồn gốc, tạo kết nối từ người nông dân tới điểm thu mua, nhà chế biến và doanh nghiệp xuất khẩu. Minh bạch dữ liệu không chỉ đáp ứng yêu cầu thị trường mà còn giúp nhà đầu tư nhìn thấy quy mô, chất lượng và độ ổn định của vùng nguyên liệu trước khi quyết định đặt nhà máy chế biến sâu.

Từ góc nhìn này, tuyến cao tốc vận chuyển hàng hóa và một nền tảng dữ liệu nông nghiệp thực hiện hai nhiệm vụ bổ sung cho nhau. Đường rút ngắn khoảng cách vật lý; dữ liệu rút ngắn khoảng cách thông tin. Nếu doanh nghiệp biết được diện tích, sản lượng dự kiến, quy trình canh tác, tình trạng mã số vùng trồng và lịch thu hoạch, họ có thể tổ chức kho, phương tiện và đơn hàng sớm hơn. Nếu nông dân nắm rõ tiêu chuẩn, giá và nhu cầu thị trường, sản xuất bớt phụ thuộc vào tín hiệu ngắn hạn từ thương lái.

Đến ngày 9/9/2026, Lâm Đồng có 1.296 mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu với tổng diện tích hơn 51.360 ha; trong đó 1.005 mã số đã được nước nhập khẩu phê duyệt. Con số cho thấy quy mô của vùng nguyên liệu đã được định danh, nhưng mã số không phải tấm vé bảo đảm xuất khẩu. Việc từng có mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói sầu riêng bị thu hồi cho thấy hệ thống chỉ có giá trị khi được giám sát thường xuyên, ngăn tình trạng mượn mã, trộn hàng và sai lệch hồ sơ.

Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói do Chính phủ ban hành chuyển mạnh thủ tục cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói sang nộp trực tuyến và hậu kiểm. Việc phân cấp tạo thuận lợi cho người sản xuất, đồng thời đòi hỏi cấp xã và cơ quan chuyên môn quản trị dữ liệu chính xác hơn. Nếu đơn giản hóa chỉ dừng ở rút ngắn hồ sơ mà năng lực kiểm tra không theo kịp, rủi ro sẽ chuyển từ khâu cấp phép sang uy tín của cả ngành hàng khi lô hàng vi phạm.

Vì thế, chuỗi logistics nông sản không thể bắt đầu ở kho và kết thúc ở cảng mà phải bắt đầu từ nhật ký đồng ruộng, mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và dự báo sản lượng. Kho lạnh cần được đặt theo vùng hàng, không theo mong muốn hành chính. Nhà máy chế biến phải có hợp đồng đủ dài với vùng nguyên liệu. Trung tâm kiểm định cần liên thông kết quả với hải quan và thị trường nhập khẩu. Khi đó, nông sản từ cao nguyên xuống Vân Phong, Quy Nhơn, Vũng Rô hay các cảng phía Nam không chỉ đi nhanh hơn mà còn đi với hồ sơ minh bạch và giá trị cao hơn.

Không chỉ cà phê, sầu riêng và các loại trái cây có giá trị cao đang đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với logistics Đắk Lắk. Nhóm sản phẩm này phụ thuộc chặt vào thời điểm thu hoạch, bảo quản, đóng gói, kiểm định và tốc độ vận chuyển đến cửa khẩu, cảng biển. Nếu tăng sản lượng nhưng thiếu kho lạnh, trung tâm phân loại, cơ sở chế biến và mạng vận tải ổn định, địa phương vẫn có thể ùn hàng hoặc phải bán tươi trong thời gian ngắn. Chuỗi liên hoàn từ vùng trồng đến chế biến sâu và xuất khẩu sẽ giúp giảm áp lực tiêu thụ tươi, đồng thời giữ lại nhiều giá trị hơn tại địa phương.

Đắk Lắk có lợi thế thương hiệu cà phê Buôn Ma Thuột. Nhưng theo ông Lê Đức Huy, địa phương cần chuyển từ quảng bá một sản phẩm sang xây dựng hệ sinh thái cà phê: chế biến sâu, không gian thưởng thức, showroom tại các điểm du lịch, truyền thông đa ngôn ngữ và kết nối với thị trường quốc tế. Hướng đi này mở rộng chuỗi giá trị từ hạt cà phê sang dịch vụ, du lịch và công nghiệp văn hóa. Một tấn nguyên liệu có giới hạn giá trị; câu chuyện, thương hiệu và trải nghiệm có thể tiếp tục tạo doanh thu sau khi sản phẩm đã rời nhà máy.

Cảng Quy Nhơn - cửa ngõ xuất nhập khẩu chủ lực hàng hóa của Tây Nguyên, là điểm đầu trong hệ thống logistics của tỉnh Gia Lai. Ảnh: Kha Phạm/TTXVN

Hạ tầng cho những dòng giá trị vô hình

Huế cung cấp một ví dụ khác về chuỗi giá trị. “Nguyên liệu” của thành phố là hệ thống di sản vật thể, phi vật thể, cảnh quan và tri thức đã tích lũy qua nhiều thế hệ. Những tài sản ấy không đi bằng container nhưng có thể tạo ra dòng khách, nội dung số, sản phẩm thiết kế, phim, trò chơi, dịch vụ dữ liệu và trải nghiệm trả phí. Hạ tầng phục vụ chuỗi giá trị này gồm máy chủ, kho dữ liệu, nền tảng định danh, bản quyền, nhân lực sáng tạo và cơ chế hợp tác công - tư.

Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế Hoàng Việt Trung cho rằng: Công nghệ không thay thế di sản mà mở rộng biên độ trải nghiệm, giúp công chúng, nhất là người trẻ, tiếp cận di sản gần gũi hơn. Thực tế tại Đại Nội, du khách đã có thể trải nghiệm triển lãm số, mô hình tương tác, định danh số cổ vật, thực tế ảo và trình chiếu hologram 3D. Các trạm tương tác dùng NFC kết nối điện thoại với hình ảnh, video, mô hình 3D và hướng dẫn đa ngôn ngữ. Công nghệ biến một lần tham quan thành nhiều lớp tiếp cận và kéo dài thời gian tương tác với điểm đến.

Tổng giám đốc Tập đoàn FPT Nguyễn Văn Khoa nhìn nhận: Dữ liệu di sản như một tài sản số độc bản, không thể sản xuất thêm và có khả năng tích lũy giá trị. Ông đề xuất mô hình bốn lớp gồm thể chế, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và kinh tế. Lớp kinh tế giúp hệ thống duy trì sức sống qua các sản phẩm phim, trò chơi, xuất bản số, bản sao 3D, du lịch thông minh, tour ảo và dịch vụ dữ liệu.

Đề xuất ấy làm rõ ý nghĩa của “giữ giá trị lại”. Nếu Huế chỉ đón khách đến tham quan rồi rời đi, nguồn thu tập trung vào vé, lưu trú và ăn uống. Khi dữ liệu di sản được chuẩn hóa và bảo vệ quyền sở hữu, doanh nghiệp sáng tạo có thể phát triển sản phẩm mới; nhà nghiên cứu, hãng phim, công ty trò chơi hoặc nền tảng giáo dục có thể sử dụng dữ liệu theo cơ chế rõ ràng. Giá trị của di sản được khai thác nhiều lần nhưng bản gốc vẫn được bảo tồn.

Nhà sáng lập, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Phygital Labs Nguyễn Huy cho rằng: Huế phải chuẩn bị đồng bộ hạ tầng, con người và chính sách. Thành phố cần máy chủ đủ sức vận hành dữ liệu lớn, đội ngũ quản trị dữ liệu, thiết kế trải nghiệm số và cơ chế cho doanh nghiệp thử nghiệm giải pháp mới.

Từ vùng cà phê, sầu riêng đến kho di sản, điểm chung là giá trị ngày càng phụ thuộc vào thông tin và khả năng tổ chức chuỗi. Hạ tầng giao thông đưa sản phẩm tới nơi nhanh hơn; hạ tầng số chứng minh sản phẩm là gì, đến từ đâu và có thể được khai thác theo cách nào. Hạ tầng tiêu chuẩn tạo niềm tin cho người mua; hạ tầng tài chính giúp doanh nghiệp đầu tư vào khâu chế biến, bảo quản và sáng tạo vốn cần thời gian thu hồi dài.

Tuy nhiên, không phải địa phương nào cũng cần tự xây đủ mọi mắt xích. Trung tâm kiểm định, kho lạnh hoặc sàn giao dịch chỉ hiệu quả khi có quy mô hàng đủ lớn. Nếu mỗi tỉnh đầu tư một hệ thống riêng nhưng không chia sẻ dữ liệu và nguồn hàng, chi phí tăng mà doanh nghiệp vẫn phải sử dụng dịch vụ ngoài vùng. Liên kết thực chất phải đi đến phân vai giữa vùng nguyên liệu, chế biến, kiểm định, gom hàng, cảng và dịch vụ quốc tế.

Khi chuỗi giá trị đã rõ, dòng vốn sẽ tìm đến những điểm có khả năng hội tụ nhiều mắt xích nhất. Cao tốc có thể tạo ra các nút giao mới; cảng biển kéo theo khu công nghiệp; đô thị cung cấp nhân lực, tài chính và dịch vụ. Nhưng một điểm giao thông đông đúc chưa chắc là cực tăng trưởng. Bài toán cuối cùng là làm sao biến các đầu mối ấy thành nơi sản xuất giá trị, thay vì chỉ trở thành chỗ đất tăng giá hoặc hàng hóa đi qua.

Bài cuối: Những tuyến đường đến các cực tăng trưởng mới

Nhóm phóng viên MT-TN/TTXVN

Tin liên quan

Hoàn thiện thể chế pháp luật về logistics gỡ điểm nghẽn mở không gian phát triển Logistics Đồng bằng sông Hồng: Khơi thông thể chế, định hình không gian tăng trưởng Hệ sinh thái logistics tích hợp tạo lực đẩy cho doanh nghiệp Hải Phòng

Từ khóa:

#hàng hóa #nông sản #cà phê #sầu riêng