Chính sách phát triển du lịch cần chú trọng sinh kế cộng đồng và lợi thế từng địa phương - Đại Biểu Nhân Dân
Sáng 7/11, thảo luận tại Tổ 14 (Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk và Tuyên Quang) về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam, ĐBQH Nguyễn Thị Thu Nguyệt (Đắk Lắk) đề nghị hoàn thiện chính sách ưu đãi theo hướng không chỉ căn cứ vào quy mô vốn, lao động mà cần chú trọng chất lượng sản phẩm, bảo tồn văn hóa, bảo vệ môi trường và tạo sinh kế cho người dân.
Không chỉ lấy quy mô vốn làm tiêu chí ưu đãi
Góp ý về điều kiện quy mô vốn và lao động được hưởng chính sách ưu đãi đầu tư du lịch tại Điều 5, đại biểu Nguyễn Thị Thu Nguyệt cho rằng, dự thảo quy định các ngưỡng vốn đầu tư khá lớn đối với dự án du lịch chất lượng cao, dự án du lịch động lực và dự án du lịch động lực mang tính chiến lược, tương ứng từ 3.000 tỷ đồng đến 30.000 tỷ đồng, cùng yêu cầu về số lượng lao động thường xuyên từ 1.000 đến 2.000 người.
Theo đại biểu, việc đặt ra các ngưỡng này nhằm thu hút những dự án quy mô lớn, tạo động lực tăng trưởng vùng và các đô thị lớn là cần thiết. Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào quy mô vốn và số lượng lao động để xác định đối tượng hưởng ưu đãi thì chưa thực sự phù hợp với tính đa dạng của ngành du lịch.

Đại biểu cho rằng, hiệu quả và sức hấp dẫn của du lịch không chỉ phụ thuộc vào quy mô đầu tư mà còn được quyết định bởi chất lượng sản phẩm, giá trị văn hóa, tài nguyên thiên nhiên, khả năng bảo tồn cảnh quan và mức độ tham gia, thụ hưởng lợi ích của cộng đồng dân cư.
Thực tế, nhiều mô hình du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch nông nghiệp, du lịch văn hóa có khả năng tạo ra sản phẩm đặc sắc, thu hút du khách và mang lại sinh kế bền vững cho người dân nhưng không đòi hỏi nguồn vốn đầu tư quá lớn. Thực tiễn tại Đắk Lắk, Tuyên Quang và nhiều địa phương cho thấy, không nhất thiết phải có dự án vốn lớn mới tạo được sức hút du lịch và giá trị kinh tế - xã hội cao.
Đối với Đắk Lắk, đại biểu cho biết, địa phương có tiềm năng phát triển đa dạng các loại hình du lịch, từ sinh thái đại ngàn, du lịch hồ, thác, du lịch cộng đồng gắn với văn hóa các dân tộc Tây Nguyên đến du lịch biển, du lịch nông nghiệp và trải nghiệm văn hóa bản địa. Tuy nhiên, phần lớn các mô hình khai thác lợi thế này có quy mô vừa và nhỏ. Nếu áp dụng các điều kiện ưu đãi như dự thảo, nhiều dự án có tiềm năng nhưng hạn chế về nguồn vốn sẽ khó tiếp cận chính sách.
Từ thực tế đó, đại biểu đề nghị nghiên cứu chỉnh lý Điều 5 theo hướng bổ sung các tiêu chí về chất lượng sản phẩm, khả năng thu hút khách, bảo tồn văn hóa, bảo vệ môi trường và tạo sinh kế cho cộng đồng. Đồng thời, cần thiết kế nhóm chính sách ưu đãi riêng đối với các dự án du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, du lịch nông nghiệp tại miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.
Đại biểu nhấn mạnh, chính sách đặc thù phải bao quát được sự khác biệt về điều kiện phát triển giữa các địa phương, từ những vùng có lợi thế đến những địa bàn còn nhiều khó khăn. Qua đó, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển du lịch, bảo đảm cơ hội tiếp cận chính sách công bằng và phù hợp hơn.
Tạo cơ chế hỗ trợ trực tiếp người dân tham gia làm du lịch
Góp ý về chính sách hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng tại khoản 6 Điều 6 và các quy định liên quan tại Điều 7, Điều 10, Điều 12, đại biểu Nguyễn Thị Thu Nguyệt đánh giá cao việc dự thảo đã quan tâm đến các loại hình du lịch cộng đồng, du lịch nông nghiệp, du lịch sinh thái và du lịch làng nghề.
Tuy nhiên, đại biểu cho rằng, các chính sách hỗ trợ hiện nay chủ yếu tập trung vào hạ tầng, đào tạo, bảo tồn văn hóa, xúc tiến quảng bá; trong khi cơ chế hỗ trợ trực tiếp để người dân có điều kiện đầu tư, tổ chức và duy trì hoạt động kinh doanh du lịch chưa thực sự rõ nét.

Theo đại biểu, phát triển du lịch cộng đồng không chỉ cần đầu tư đường giao thông, điện, nước, công trình vệ sinh mà còn phải quan tâm cải tạo nhà ở, cơ sở lưu trú, xây dựng không gian văn hóa, phát triển sản vật đặc trưng, nâng cao chất lượng dịch vụ và kết nối với doanh nghiệp lữ hành để tìm kiếm thị trường.
Do đó, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu bổ sung cơ chế hỗ trợ trực tiếp đối với hộ gia đình, hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ và cộng đồng dân cư tham gia phát triển du lịch. Trong đó, chú trọng hỗ trợ cải tạo cơ sở lưu trú cộng đồng, phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng, bảo tồn không gian văn hóa truyền thống, đào tạo nhân lực tại chỗ, chuyển đổi số và kết nối thị trường.
Đại biểu cho rằng, đây là những điều kiện quan trọng để các mô hình du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái phát triển thực chất, bền vững. Nếu chỉ dừng ở các chính sách hỗ trợ hạ tầng và quảng bá như dự thảo thì chưa đủ tạo cú hích để người dân chủ động tham gia, khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch tại địa phương.
Ưu tiên ngân sách Trung ương cho hạ tầng kết nối du lịch liên vùng
Đối với chính sách ưu tiên nguồn lực đầu tư hạ tầng kết nối phát triển du lịch tại Điều 12, đại biểu Nguyễn Thị Thu Nguyệt cho rằng, mặc dù khoản 1 và khoản 2 đã đề cập việc ưu tiên ngân sách nhà nước đầu tư hạ tầng thiết yếu, giao thông kết nối đa phương thức, hỗ trợ phát triển sản phẩm du lịch đặc thù và du lịch cộng đồng, nhưng các quy định vẫn còn mang tính nguyên tắc.
Dự thảo chưa làm rõ tiêu chí ưu tiên, cơ chế phân bổ và trách nhiệm bảo đảm nguồn lực đối với những địa phương có tiềm năng phát triển du lịch nhưng hạ tầng còn thiếu và yếu. Nếu các nội dung này không được quy định đủ rõ, việc triển khai các văn bản hướng dẫn sau khi Nghị quyết ban hành có thể gặp khó khăn, ảnh hưởng đến khả năng tổ chức thực hiện tại địa phương.
Dẫn thực tiễn Đắk Lắk sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, đại biểu cho rằng, không gian phát triển du lịch của địa phương có điều kiện kết nối giữa đại ngàn Tây Nguyên với Duyên hải miền Trung, tạo lợi thế lớn để hình thành các sản phẩm du lịch liên vùng. Nếu được đầu tư đồng bộ về hạ tầng giao thông kết nối, địa phương sẽ có thêm điều kiện phát triển các hoạt động du lịch và dịch vụ hỗ trợ.
Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung cơ chế ưu tiên ngân sách Trung ương hỗ trợ đầu tư hạ tầng kết nối đối với các địa phương có tiềm năng phát triển du lịch, có khả năng hình thành sản phẩm đặc trưng và liên kết vùng. Đặc biệt, cần quan tâm cả những điểm du lịch chưa được công nhận là khu du lịch quốc gia nhưng có tiềm năng phát triển rõ rệt.
Đại biểu cũng lưu ý, cần có cơ chế điều tiết, hỗ trợ nguồn lực từ ngân sách Trung ương đối với những địa phương có lợi thế, tiềm năng du lịch lớn nhưng còn khó khăn về kinh phí, đang phụ thuộc vào nguồn ngân sách hỗ trợ của Trung ương.
Theo đại biểu, việc thiết kế chính sách ưu tiên phù hợp sẽ giúp khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của từng vùng, từng địa phương; thúc đẩy liên kết vùng và tạo nền tảng để du lịch Việt Nam phát triển đồng bộ, bền vững.